Tinh thần vì cộng đồng của người Việt trong dịch COVID-19 ...

Dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng tại quận Đống Đa

Rút tiền thẻ tín dụng tại quận Đống Đa
📷
Sống trong thời đại chuyển gia công nghệ 4.0, cuộc sống hiện đại giúp mọi hoạt động đều được tự động hóa. Hình thức thanh toán tiền mặt khi mua sắm cũng đã được thay thế bởi chiếc thẻ tín dụng nhỏ gọn nhưng rất lợi hại. Hiện nay, các ngân hàng tích cực tăng cường khuyến khích khách hàng mở thẻ tín dụng, do vậy số lượng thẻ tín dụng được phát hành cũng tăng lên nhanh chóng. Dịch vụ rút tiền mặt thẻ tín dụng tại quận Đống Đa của chúng tôi rất hân hạnh được đóng góp một phần công sức để giúp cuộc sống của các bạn thêm phần tiện nghi, hiện đại hơn. Nếu chưa thực sự hiểu rõ về dịch vụ của chúng tôi, hãy theo dõi bài viết sau đây nhé!
Một vài hiểu biết về thẻ tín dụng
📷
Thẻ tín dụng là một loại thẻ thanh toán do các ngân hàng phát hành, có mục đích chính là để thanh toán hóa đơn không cần có sẵn tiền trong thẻ tại các điểm chấp nhận thẻ tín dụng trong Việt Nam và toàn thế giới. Ngoài ra nó còn có thể dùng để rút tiền mặt. Tuy nhiên cần lưu ý rằng nếu bạn không tuân thủ các quy định về thẻ tín dụng thì có thể sẽ bị tính phí rất cao và chịu lãi suất lên đến 30% một năm. Ngân hàng phát hành thẻ sẽ cung cấp cho chủ thẻ một số tiền nhất định để chi tiêu, bạn được 45 ngày miễn lãi, số tiền bạn chi tiêu bằng thẻ tín dụng sẽ hoàn toàn được ngân hàng cho mượn mà không mất một đồng tiền lãi nào.
Với kinh nghiệm nhiều năm trong dịch vụ rút tiền mặt thẻ tín dụng, tín dụng Bắc Trung Nam tự tin cung cấp đến quý khách hàng các dịch vụ rút tiền từ thẻ tín dụng với chi phí cực thấp chỉ từ 1%, cam kết thấp nhất thị trường, đảm bảo tính an toàn và bảo mật thông tin cho khách hàng.
Ưu điểm của thẻ tín dụng
📷
Bạn sống ở Đống Đa, bạn muốn mua bất kì sản phẩm nào dù không có tiền mặt. Bạn hãy sử dụng dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng ở quân Đống Đa của chúng tôi nhé. Ở những địa điểm hỗ trợ thanh toán bằng thẻ tín dụng, bạn sẽ thoải mái chi tiêu trước và trả tiền sau, được ngân hàng miễn lãi lên đến 45 ngày. Đã là chủ thẻ tín dụng nghĩa là bạn có quyền mua sắm hàng hóa, mua hàng trực tuyến, đặt vé máy bay, phòng khách sạn một cách dễ dàng, an toàn, tiết kiệm. Ngoài ra còn được tích điểm thưởng, nhận nhiều ưu đãi khác khi mua hàng bằng thẻ tín dụng. Đây được xem là một công cụ vạn năng giúp bạn dễ dàng trong việc quản lí chi tiêu hàng tháng, theo dõi những giao dịch, mua sắm dễ dàng hơn.
Lưu ý khi sử dụng thẻ tín dụng
– Trước khi mở thẻ tín dụng, bạn cần tìm hiểu và nắm rõ các thông tin về việc phát hành thẻ tín dụng của các ngân hàng, ví dụ như ngân hàng đó có những loại thẻ nào, với mức thu nhập của bản thân thì loại thẻ nào phù hợp nhất, điều kiện thủ tục phát hành thẻ – Cần xem xét cụ thể cẩn thận không nên mở quá nhiều thẻ tín dụng, lên kế hoạch xóa nợ và chứng minh khả năng tài chính của mình để có thể mở và sử dụng thẻ tín dụng của bất kì ngân hàng nào. – Để đơn giản và dễ dàng hơn trong việc nắm được các thông tin cần thiết để mở thẻ tín dụng hãy liên hệ với chúng tôi. Tín dụng Bắc Trung Nam luôn có một đội ngũ nhân viên tư vấn giàu kinh nghiệm, nhiệt tình sẵn sàng giải đáp mọi thắc mắc của quý khách hàng.
Lợi ích bạn nhận được khi sử dụng dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng
📷
Sử dụng dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng của chúng tôi bạn không cần bỏ ra bất kì chi phí gì và sẽ không bị ngân hàng tính phí phạt trả chậm nữa. Không mất thời gian cũng như công sức đi lại, chỉ cần ngồi nhà và nhấc điện thoại lên liên hệ với chúng tôi, chúng tôi sẽ phục vụ lắng nghe nhu càu của quý khách, tư vấn nhiệt tình và chuyên nghiệp về thông tin dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng cho bạn. Cung cấp các giải pháp tối ưu giải quyết mọi khó khăn về tiền mặt của các bạn.
Khi đã sử dụng dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng quận Đống Đa của chúng tôi, bạn sẽ có cơ hội nhận được nhiều ưu đãi hơn với các dịch vụ thẻ tín dụng của chúng tôi, bằng kinh nghiệm của mình, chúng tôi sẽ cố gắng giúp bạn được tăng mức uy tín tín dụng với ngân hàng, trở thành người làm chủ được tài khoản của mình, được ngân hàng nâng cao thêm hạn mức tín dụng.
Rút tiền mặt thẻ tín dụng được xem là dịch vụ thế mạnh của chúng tôi, cam kết mang đến sự tư vấn tốt nhất về tài chính, hỗ trợ thủ tục đăng ký thẻ tín dụng nhanh chóng, thao tác giao dịch ngắn gọn tiết kiệm thời gian chi phí. Hãy liên hệ ngay với tín dụng Bắc Trung Nam tại Đống Đa ngay hôm nay qua hotline 0934 532 488 các bạn nhé.
Rút tiền thẻ tín dụng tại quận Đống Đa
📷
Bạn đang ở quận Ba Đình, chắc hẳn bạn đã từng nghe đến dịch vụ rút tiền tín dụng rồi phải không nào, nhưng để hiểu rõ cách thức sử dụng và tường tận lợi ích của nó thì không phải ai cũng biết, khá nhiều người còn mơ hồ vì không biết rút tiền thẻ tín dụng được hoạt động ra sao? Tín dụng Bắc Trung Nam là đơn vị chuyên cung cấp dịch vụ rút tiền mặt từ thẻ tín dụng tại khu vực Ba Đình. Với kinh nghiệm nhiều năm trong nghề và là đối tác của nhiều Ngân hàng lớn nhỏ trên khắp Việt Nam, chúng tôi tự hào mang tới cho quý khách hàng dịch vụ rút tiền mặt từ thẻ tín dụng chi phí tốt nhất hiện nay. Nếu bạn chưa thu xếp đủ số tiền để thanh toán thì dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng tại quận Ba Đình sẽ giúp bạn làm điều đó.
Dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng là gì?
Rút tiền thẻ tín dụng là dịch vụ quẹt thẻ tín dụng do ngân hàng bất kỳ phát hành để lấy tiền mặt chi trả trong một vài trường hợp khẩn cấp, đây là hoạt động đang rất phổ biến trên thị trường tài chính hiện nay. Với sứ mệnh phục vụ nhu cầu của quý khách hàng ngày một tốt hơn, Tài Chính Bắc Trung Nam chúng tôi đã và đang cung cấp dịch vụ rút tiền tín dụng uy tín giá rẻ, cạnh tranh nhất thị trường, đồng thời bạn sẽ được phục vụ trách nhiệm tận tâm đến từ đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp của đơn vị chúng tôi.
Ích lợi khi sử dụng thẻ tín dụng để rút tiền
Tại sao chiếc thẻ tín dụng có kích thước chỉ nhỏ bằng lòng bàn tay lại có thể thay thế cho tiền mặt, lại được nhiều người săn đón đến thế. Vì nó tuy nhỏ nhưng có võ, ẩn chứ nhiều lợi ích to lớn phục vụ cuộc sống con người tiện nghi, hiện đại hơn, tránh được những rủi ro khi thanh toán bằng tiền mặt. Trong khi đó, sử dụng thẻ tín dụng thanh toán bạn còn được hưởng nhiều ưu đãi hấp dẫn như hoàn tiền mặt, tích điểm, khuyến mãi đặc biệt, nhiều loại thẻ có ưu đãi hoàn trả tiền mặt lên đến hơn 1 triệu thưa quý vị.
Với thẻ tín dụng, việc đặt hàng qua mạng rất dễ dàng, chỉ cần ngồi tại nhà bạn với chiếc laptop hay điện thoại thông minh cũng có thể mua được hàng hóa ưa thích cách chúng ta nửa vòng Trái Đất như Mĩ, Đức, Pháp…
Mở thẻ tín dụng cần chuẩn bị những gì?
📷
Quý khách hàng có nhu cầu mở thẻ tín dụng tại bất kì ngân hàng nào, rất đơn giản chỉ cần chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ sau:
– Đơn đề nghị đăng kí mở tài khoản thẻ tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ theo mẫu của từng ngân hàng – Giấy tờ chứng minh địa chỉ cư trú như bản sao sổ hộ khẩu, đơn xin xác nhận tạm trú và các loại giấy tờ chứng minh thu nhập như bảng lương 3 tháng gần nhất… – Giấy photo chứng minh thư nhân dân đối với người Việt Nam. Bản sao kèm bản chính sổ hộ chiếu hay Visa hoặc giấy phép lưu trú hợp pháp đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam. – Bạn đã có thẻ tín dụng chính nhưng còn có nhu cầu phát hành thêm thẻ tín dụng phụ phục vụ nhu cầu của bản thân và gia đình, khách hàng cần bổ sung chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của chủ thẻ phụ. – Trong trường hợp khách hàng có tài sản bất định như bất động sản, sổ tiết kiệm… đứng tên chủ thẻ thì đơn giản hơn, chỉ cần các giấy tờ chứng minh sở hữu và giá trị của các tài sản này này là được.
Đơn vị tin cậy nhất cung cấp dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng tại Đống Đa
Thẻ tín dụng có nhiều tiện ích ở việc bạn chi tiêu tiền là do ngân hàng trả mà bạn thì không bị tính lãi. Ngân hàng cho bạn 45 ngày miễn lãi, chỉ cần thanh toán số tiền đã tiêu dùng trong thời gian hạn miễn lãi cho ngân hàng là bạn có thể tiêu dùng tiền của ngân hàng mà không mất bất kì tiền phí hay lãi suất nào.
Khi có việc cần tiền mặt, hãy đến với Tín Dụng Bắc Trung Nam để có thể rút toàn bộ 100% số tiền trong hạn mức thẻ tín dụng. Chỉ cần ban có nhu cầu, chúng tôi luôn sẵn sàng tiếp nhận trợ giúp, thời gian rút tiền mặt linh động hàng ngày kể cả thứ 7, chủ nhật và các ngày lễ trong năm. Đặc biệt chúng tôi còn có dịch vụ đáo nợ thẻ cho ngân hàng với lãi suất thấp, việc này tránh cho bạn phải chịu lãi cao từ ngân hàng khi bạn chưa có ngay tiền để nộp.

Nếu có thắc mắc hay muốn biết thêm thông tin về dịch vụ rút tiền, hãy gọi ngay cho chúng tôi qua hotline dưới đây để được tư vấn hoàn toàn miễn phí.

Thông tin liên hệ:
Địa chỉ: 161 Yên Lãng, Đống Đa, Hà Nội
Tel: 0934 532 488 – 0868 999 039
Website: ruttienthetindung68.com Email: [[email protected]](mailto:[email protected]) Facebook: ruttienthetindung68.com
submitted by JFKefka to u/JFKefka [link] [comments]

Dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng tại quận Đống Đa

Dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng tại quận Đống Đa
Rút tiền thẻ tín dụng tại quận Đống Đa

https://preview.redd.it/fhafyydc46441.jpg?width=600&format=pjpg&auto=webp&s=d032459433d397ff253eb28f581a42709051c419
Sống trong thời đại chuyển gia công nghệ 4.0, cuộc sống hiện đại giúp mọi hoạt động đều được tự động hóa. Hình thức thanh toán tiền mặt khi mua sắm cũng đã được thay thế bởi chiếc thẻ tín dụng nhỏ gọn nhưng rất lợi hại. Hiện nay, các ngân hàng tích cực tăng cường khuyến khích khách hàng mở thẻ tín dụng, do vậy số lượng thẻ tín dụng được phát hành cũng tăng lên nhanh chóng. Dịch vụ rút tiền mặt thẻ tín dụng tại quận Đống Đa của chúng tôi rất hân hạnh được đóng góp một phần công sức để giúp cuộc sống của các bạn thêm phần tiện nghi, hiện đại hơn. Nếu chưa thực sự hiểu rõ về dịch vụ của chúng tôi, hãy theo dõi bài viết sau đây nhé!
Một vài hiểu biết về thẻ tín dụng

https://preview.redd.it/navv48dd46441.jpg?width=768&format=pjpg&auto=webp&s=e7a7931c483fef89cdc2b3697fa14ff4be2321b1
Thẻ tín dụng là một loại thẻ thanh toán do các ngân hàng phát hành, có mục đích chính là để thanh toán hóa đơn không cần có sẵn tiền trong thẻ tại các điểm chấp nhận thẻ tín dụng trong Việt Nam và toàn thế giới. Ngoài ra nó còn có thể dùng để rút tiền mặt. Tuy nhiên cần lưu ý rằng nếu bạn không tuân thủ các quy định về thẻ tín dụng thì có thể sẽ bị tính phí rất cao và chịu lãi suất lên đến 30% một năm. Ngân hàng phát hành thẻ sẽ cung cấp cho chủ thẻ một số tiền nhất định để chi tiêu, bạn được 45 ngày miễn lãi, số tiền bạn chi tiêu bằng thẻ tín dụng sẽ hoàn toàn được ngân hàng cho mượn mà không mất một đồng tiền lãi nào.
Với kinh nghiệm nhiều năm trong dịch vụ rút tiền mặt thẻ tín dụng, tín dụng Bắc Trung Nam tự tin cung cấp đến quý khách hàng các dịch vụ rút tiền từ thẻ tín dụng với chi phí cực thấp chỉ từ 1%, cam kết thấp nhất thị trường, đảm bảo tính an toàn và bảo mật thông tin cho khách hàng.
Ưu điểm của thẻ tín dụng

https://preview.redd.it/d5a9s94e46441.jpg?width=541&format=pjpg&auto=webp&s=15201909bef973ea706abb012fa8df1f758facf5
Bạn sống ở Đống Đa, bạn muốn mua bất kì sản phẩm nào dù không có tiền mặt. Bạn hãy sử dụng dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng ở quân Đống Đa của chúng tôi nhé. Ở những địa điểm hỗ trợ thanh toán bằng thẻ tín dụng, bạn sẽ thoải mái chi tiêu trước và trả tiền sau, được ngân hàng miễn lãi lên đến 45 ngày. Đã là chủ thẻ tín dụng nghĩa là bạn có quyền mua sắm hàng hóa, mua hàng trực tuyến, đặt vé máy bay, phòng khách sạn một cách dễ dàng, an toàn, tiết kiệm. Ngoài ra còn được tích điểm thưởng, nhận nhiều ưu đãi khác khi mua hàng bằng thẻ tín dụng. Đây được xem là một công cụ vạn năng giúp bạn dễ dàng trong việc quản lí chi tiêu hàng tháng, theo dõi những giao dịch, mua sắm dễ dàng hơn.
Lưu ý khi sử dụng thẻ tín dụng
– Trước khi mở thẻ tín dụng, bạn cần tìm hiểu và nắm rõ các thông tin về việc phát hành thẻ tín dụng của các ngân hàng, ví dụ như ngân hàng đó có những loại thẻ nào, với mức thu nhập của bản thân thì loại thẻ nào phù hợp nhất, điều kiện thủ tục phát hành thẻ – Cần xem xét cụ thể cẩn thận không nên mở quá nhiều thẻ tín dụng, lên kế hoạch xóa nợ và chứng minh khả năng tài chính của mình để có thể mở và sử dụng thẻ tín dụng của bất kì ngân hàng nào. – Để đơn giản và dễ dàng hơn trong việc nắm được các thông tin cần thiết để mở thẻ tín dụng hãy liên hệ với chúng tôi. Tín dụng Bắc Trung Nam luôn có một đội ngũ nhân viên tư vấn giàu kinh nghiệm, nhiệt tình sẵn sàng giải đáp mọi thắc mắc của quý khách hàng.
Lợi ích bạn nhận được khi sử dụng dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng

https://preview.redd.it/wmw598nf46441.jpg?width=700&format=pjpg&auto=webp&s=f6740c7dcb7c14682a711a56bd3b3e30cb8630af
Sử dụng dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng của chúng tôi bạn không cần bỏ ra bất kì chi phí gì và sẽ không bị ngân hàng tính phí phạt trả chậm nữa. Không mất thời gian cũng như công sức đi lại, chỉ cần ngồi nhà và nhấc điện thoại lên liên hệ với chúng tôi, chúng tôi sẽ phục vụ lắng nghe nhu càu của quý khách, tư vấn nhiệt tình và chuyên nghiệp về thông tin dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng cho bạn. Cung cấp các giải pháp tối ưu giải quyết mọi khó khăn về tiền mặt của các bạn.
Khi đã sử dụng dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng quận Đống Đa của chúng tôi, bạn sẽ có cơ hội nhận được nhiều ưu đãi hơn với các dịch vụ thẻ tín dụng của chúng tôi, bằng kinh nghiệm của mình, chúng tôi sẽ cố gắng giúp bạn được tăng mức uy tín tín dụng với ngân hàng, trở thành người làm chủ được tài khoản của mình, được ngân hàng nâng cao thêm hạn mức tín dụng.
Rút tiền mặt thẻ tín dụng được xem là dịch vụ thế mạnh của chúng tôi, cam kết mang đến sự tư vấn tốt nhất về tài chính, hỗ trợ thủ tục đăng ký thẻ tín dụng nhanh chóng, thao tác giao dịch ngắn gọn tiết kiệm thời gian chi phí. Hãy liên hệ ngay với tín dụng Bắc Trung Nam tại Đống Đa ngay hôm nay qua hotline 0934 532 488 các bạn nhé.
Rút tiền thẻ tín dụng tại quận Đống Đa

https://preview.redd.it/0vhuplig46441.png?width=768&format=png&auto=webp&s=1465de3fae572e241215b8ac6dab04413d123cdf
Bạn đang ở quận Ba Đình, chắc hẳn bạn đã từng nghe đến dịch vụ rút tiền tín dụng rồi phải không nào, nhưng để hiểu rõ cách thức sử dụng và tường tận lợi ích của nó thì không phải ai cũng biết, khá nhiều người còn mơ hồ vì không biết rút tiền thẻ tín dụng được hoạt động ra sao? Tín dụng Bắc Trung Nam là đơn vị chuyên cung cấp dịch vụ rút tiền mặt từ thẻ tín dụng tại khu vực Ba Đình. Với kinh nghiệm nhiều năm trong nghề và là đối tác của nhiều Ngân hàng lớn nhỏ trên khắp Việt Nam, chúng tôi tự hào mang tới cho quý khách hàng dịch vụ rút tiền mặt từ thẻ tín dụng chi phí tốt nhất hiện nay. Nếu bạn chưa thu xếp đủ số tiền để thanh toán thì dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng tại quận Ba Đình sẽ giúp bạn làm điều đó.
Dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng là gì?
Rút tiền thẻ tín dụng là dịch vụ quẹt thẻ tín dụng do ngân hàng bất kỳ phát hành để lấy tiền mặt chi trả trong một vài trường hợp khẩn cấp, đây là hoạt động đang rất phổ biến trên thị trường tài chính hiện nay. Với sứ mệnh phục vụ nhu cầu của quý khách hàng ngày một tốt hơn, Tài Chính Bắc Trung Nam chúng tôi đã và đang cung cấp dịch vụ rút tiền tín dụng uy tín giá rẻ, cạnh tranh nhất thị trường, đồng thời bạn sẽ được phục vụ trách nhiệm tận tâm đến từ đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp của đơn vị chúng tôi.
Ích lợi khi sử dụng thẻ tín dụng để rút tiền
Tại sao chiếc thẻ tín dụng có kích thước chỉ nhỏ bằng lòng bàn tay lại có thể thay thế cho tiền mặt, lại được nhiều người săn đón đến thế. Vì nó tuy nhỏ nhưng có võ, ẩn chứ nhiều lợi ích to lớn phục vụ cuộc sống con người tiện nghi, hiện đại hơn, tránh được những rủi ro khi thanh toán bằng tiền mặt. Trong khi đó, sử dụng thẻ tín dụng thanh toán bạn còn được hưởng nhiều ưu đãi hấp dẫn như hoàn tiền mặt, tích điểm, khuyến mãi đặc biệt, nhiều loại thẻ có ưu đãi hoàn trả tiền mặt lên đến hơn 1 triệu thưa quý vị.
Với thẻ tín dụng, việc đặt hàng qua mạng rất dễ dàng, chỉ cần ngồi tại nhà bạn với chiếc laptop hay điện thoại thông minh cũng có thể mua được hàng hóa ưa thích cách chúng ta nửa vòng Trái Đất như Mĩ, Đức, Pháp…
Mở thẻ tín dụng cần chuẩn bị những gì?

https://preview.redd.it/rvtfmmfh46441.jpg?width=650&format=pjpg&auto=webp&s=4c99d3714905578bdabad56241d853660d44f37d
Quý khách hàng có nhu cầu mở thẻ tín dụng tại bất kì ngân hàng nào, rất đơn giản chỉ cần chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ sau:
– Đơn đề nghị đăng kí mở tài khoản thẻ tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ theo mẫu của từng ngân hàng – Giấy tờ chứng minh địa chỉ cư trú như bản sao sổ hộ khẩu, đơn xin xác nhận tạm trú và các loại giấy tờ chứng minh thu nhập như bảng lương 3 tháng gần nhất… – Giấy photo chứng minh thư nhân dân đối với người Việt Nam. Bản sao kèm bản chính sổ hộ chiếu hay Visa hoặc giấy phép lưu trú hợp pháp đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam. – Bạn đã có thẻ tín dụng chính nhưng còn có nhu cầu phát hành thêm thẻ tín dụng phụ phục vụ nhu cầu của bản thân và gia đình, khách hàng cần bổ sung chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của chủ thẻ phụ. – Trong trường hợp khách hàng có tài sản bất định như bất động sản, sổ tiết kiệm… đứng tên chủ thẻ thì đơn giản hơn, chỉ cần các giấy tờ chứng minh sở hữu và giá trị của các tài sản này này là được.
Đơn vị tin cậy nhất cung cấp dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng tại Đống Đa
Thẻ tín dụng có nhiều tiện ích ở việc bạn chi tiêu tiền là do ngân hàng trả mà bạn thì không bị tính lãi. Ngân hàng cho bạn 45 ngày miễn lãi, chỉ cần thanh toán số tiền đã tiêu dùng trong thời gian hạn miễn lãi cho ngân hàng là bạn có thể tiêu dùng tiền của ngân hàng mà không mất bất kì tiền phí hay lãi suất nào.
Khi có việc cần tiền mặt, hãy đến với Tín Dụng Bắc Trung Nam để có thể rút toàn bộ 100% số tiền trong hạn mức thẻ tín dụng. Chỉ cần ban có nhu cầu, chúng tôi luôn sẵn sàng tiếp nhận trợ giúp, thời gian rút tiền mặt linh động hàng ngày kể cả thứ 7, chủ nhật và các ngày lễ trong năm. Đặc biệt chúng tôi còn có dịch vụ đáo nợ thẻ cho ngân hàng với lãi suất thấp, việc này tránh cho bạn phải chịu lãi cao từ ngân hàng khi bạn chưa có ngay tiền để nộp.
Nếu có nhu cầu, hãy liên hệ ngay với chúng tôi qua hotline dưới đây để được hỗ trợ nhanh chóng nhất. Chúng tôi sẵn sàng giúp bạn giải quyết các vấn đề về thẻ tín dụng, không còn lỗi lo về phí và lãi suất.
Thông tin liên hệ:
Tel: 0934 532 488 – 0868 999 039
Website: ruttienthetindung68.com Email: [[email protected]](mailto:[email protected]) Facebook: ruttienthetindung68.com
submitted by Quangteo214 to u/Quangteo214 [link] [comments]

Khai niem marketing duoc dac diem va cac yeu to anh huong tai Luan Van 24

Trong bài viết này, Luận Văn 24 chuyên gia lam luan van thac si xin chia sẻ đến bạn đọc khái niệm marketing dược cùng những đặc điểm và những yếu tố ảnh hưởng đến marketing dược.
📷
Khái niệm marketing dược, đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng

1. Khái niệm marketing dược

Marketing chuyên ngành Dược là sự kết hợp giữa marketing căn bản và kiến thức chuyên ngành dược được các nhà marketing chuyên nghiệp vận dụng những công cụ trong marketing để đưa ra chiến lược và kế hoạch marketing phù hợp.
Marketing trong ngành dược phẩm nhằm quảng bá thuốc và những sản phẩm của thuốc nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng bán đúng đối tượng, đúng loại, đúng giá, đúng nơi cần.
Dược phẩm là một trong những ngành công nghiệp có chi phí đầu tư, nghiên cứu, phát triển thuốc mới lớn vì vậy chi phí trong marketing ngành dược cũng cao hơn rất nhiều so với chi phí ban đầu nghiên cứu sản phẩm mới. Vì vậy, người làm marketing dược cần phải sử dụng các chiến lược, chiến dịch khác nhau để nhắm vào những đối tượng nhân viên y tế và người bệnh.

2. Đặc điểm của marketing dược

Hoạt động Marketing dược đáp ứng 5 đúng: đúng thuốc, đúng số lượng, đúng nơi , đúng giá, đúng lúc
– Đúng thuốc: Xét theo góc độ trực tiếp, yêu cầu hệ thống marketing dược cung cấp thuốc đúng loại dược chất, đúng hàm lượng theo ghi trên nhãn, chính là phải đảm bảo chất lượng thuốc.
– Đúng số lượng thuốc: Marketing dược phải xác định được đúng số lượng thuốc sẽ sản xuất kinh doanh để tung ra thị trường. Phải xác định quy cách số lượng thuốc đóng gói sao cho phù hợp với thị trường mục tiêu (bệnh viện, hiệu thuốc bán lẻ …).
– Đúng nơi: Thứ nhất, với thuốc kê đơn do bác sĩ kê đơn và chỉ có dược sĩ được quyền phân phát. Hơn nữa, trách nhiệm của marketing trong nhiệm vụ “đúng nơi” là cần thiết phải duy trì mối quan hệ thương mại tốt với các phần tử khác của kênh phân phối. Vì vậy, những người bán lẻ, bán buôn và bệnh viện phải là một thể thống nhất với chính sách phân phối của nhà sản xuất.
– Đúng giá: Giá là một trong 4 chính sách của marketing – mix, và thực tế ở điều kiện kinh tế của nước ta thì giá là một yếu tố rất quan trọng. Đặc biệt thuốc là một loại hàng hóa tối cần, người tiêu dùng thường bắt buộc phải dùng cho điều trị bệnh tật. Hơn nữa tại nơi bán lẻ, thuốc là loại hàng gần như không có hiện tượng mặc cả.
– Đúng lúc: Sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thuốc là một trách nhiệm nữa của quản lý marketing dược có liên quan tới chức năng đúng nơi.
Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ làm thuê báo cáo thực tập , nhận viết assignment , hỗ trợ spss, viết tiểu luận thuê chuyên nghiệp nhất thị trường. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ từ A-Z.

3. Những chiến lược marketing dược

Quảng cáo
Quảng cáo là một trong những chiến lược được nhiều công ty, doanh nghiệp sử dụng để giúp cho hoạt động marketing dược phẩm tiếp thị, tiếp cận được với những khách hàng mới thông qua việc giới thiệu quảng bá qua các phương tiện đa dạng.
Bạn có thể tối ưu hoạt động marketing dược phẩm của công ty bằng cách chú trọng việc quảng cáo tại các bệnh viện, phòng khám, cơ sở y tế tư nhân,…qua kênh báo chí, sách hướng dẫn, tờ rơi, phát cho người bệnh hoặc các bác sĩ, dược sĩ,..
Trưng bày sản phẩm
Một trong những chiến dịch hiệu quả nữa là trưng bày sản phẩm. Ngành dược là ngành chuyên môn nên nếu không hiểu, không biết gì về sản phẩm thì người bệnh sẽ không dám mua, không dám sử dụng. Vì vậy, các doanh nghiệp dược, nhà sản xuất dược phẩm cần phải trưng bày sản phẩm của mình cho khách hàng thấy, tạo mối quan hệ tốt với các địa điểm bán dược phẩm để có thể trưng bày sản phẩm của công ty mình tại đó.
Xúc tiến thị trường
Chúng ta có thể xúc tiến thị trường trong ngành dược bằng nhiều phương án khác nhau như cung cấp các thông tin miễn phí về sức khỏe, những dụng cụ có ích cho sức khỏe hoặc cho người tiêu dùng thấy được sự quan tâm đến cộng đồng qua những sự kiện khám sức khỏe, tư vấn khám chữa bệnh miễn phí hoặc ưu đãi cho người già và trẻ nhỏ.
Chăm sóc thúc đẩy hệ thống bán lẻ
Điểm yếu chung của nhiều doanh nghiệp Việt Nam nói chung và ngành dược nói riêng theo nghiên cứu của trưởng khoa dược trường cao đẳng y dược Sài Gòn là ở khâu phân phối sản phẩm và thường phụ thuộc vào hệ thống bán buôn. Điều này sẽ khiến tính lệ thuộc cao và rất dễ tạo ra những cơn sốt giá ảo khiến khách hàng từ chối không mua hàng nữa hoặc nếu mối quan hệ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối không tốt thì cũng có khả năng mất mối bán hàng và bị gián đoạn ngay. Vì vậy thay vì bán buôn thì hãy thử một số cách phân phối, bán thuốc thông minh sau đây:

– Mở rộng kênh OTC (bán hàng trực tiếp qua nhà thuốc)

Hiện nay, theo khảo sát của Việt Nam Report đánh giá về các chiến lược của nhiều doanh nghiệp Dược Việt thì đã có 67% doanh nghiệp phản hồi sẽ phát triển mở rộng kênh OTC cho thấy các doanh nghiệp đang dần quan tâm tới thị trường bán le ngoài thị trường nhiều hơn. Thị trường bán lẻ này có tới khoảng 50.000 nhà thuốc chiếm giữ tới 95% thị phần.
Việc tận dụng marketing bằng kênh này luôn sẽ thúc đẩy doanh nghiệp dược phát triển nhanh chóng. Nhiều nhà sản xuất dược phẩm đã đạt được được thành công lớn nhờ bán hàng qua kênh này là: Traphaco, dược Hậu Giang,…

– Hợp tác phân phối sản phẩm với chuỗi nhà thuốc GPP

Đây là một trong những cách marketing khôn ngoan dù chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ những người dân vẫn giữ thói quen mua thuốc tại những cửa hàng truyền thống. Việc xây dựng nhà thuốc GPP là xu hướng mới của tương lai. Việc này không chỉ phù hợp với thị trường mà còn có được sự hậu thuẫn từ chính phủ. Đây là cách đi tốt nhất với những doanh nghiệp không có khả năng xây dựng chuỗi nhà thuốc riêng.

– Phân phối thông qua siêu thị thuốc

Mô hình kinh doanh này đã được phổ biến tại nhiều nước như Canada, Mỹ,…thực hiện việc bán kết hợp giữa thuốc và các sản phẩm hóa dược, thiết bị y tế như hình thức siêu thị tự chọn. Tuy nhiên, hiện nay người Việt Nam vẫn chỉ quen mua thuốc lẻ, từng viên chứ không mua theo hộp, và cũng không quen mua kết hợp với các sản phẩm khác. Vì vậy nếu muốn thúc đẩy phát triển theo mô hình phân phối thông qua siêu thị thì phải thay đổi nhận thức, thói quen của người tiêu dùng trước. Việc bán qua siêu thị sẽ chỉ cho phép bán các loại thuốc thông thường, không cần kê đơn như thuốc cảm, sổ mũi, vitamin…

– Xây dựng đội ngũ trình dược viên kết nối dược sĩ

Dược phẩm là lĩnh vực có tính bất đối xứng thông tin rất cao giữa người cung cấp thuốc (bác sĩ, dược sĩ) và người sử dụng. Họ không có quyền thương lượng trong giao dịch khám chữa bệnh của chính bản thân; chỉ biết ngày uống mấy lần, trước hay sau khi ăn.
Vì vậy, bác sĩ và dược sĩ là người quyết định thuốc có được bán hay không, còn các mắt xích trong kênh phân phối chỉ làm nhiệm vụ trung gian đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Chính vì vậy các doanh nghiệp dược nên có thêm đội ngũ trình dược viên để thuận tiện cho việc cung cấp những kiến thức mới về thuốc.
Quan tâm đến người tiêu dùng cuối
Hiện nay, người tiêu dùng của ngành dược phẩm đang hoàn toàn bị động trong việc mua thuốc và phụ thuộc vào bác sĩ, dược sĩ. Hãy thử phân tích những cách marketing mới nếu thuốc được bán qua các phần mềm, thiết bị di động như thế nào nhé!
– App người tiêu dùng: có thể tra cứu thông tin về tính năng, xuất xứ, so sánh giá cả,…của các loại thuốc, vật tư thiết bị y tế, thực phẩm chức năng, tìm kiếm thông tin bác sĩ chuyên khoa, địa chỉ bệnh viện, đặt lịch hẹn, đăng ký tham gia những buổi hội thảo, hướng dẫn cách uống thuốc đúng giờ,…
– Website thương mại điện tử: Cung cấp thông tin đầy đủ về lĩnh vực dược phẩm, giá thành các loại thuốc tương quan với thị trường, có thể trực tiếp xin khiếu nại hoặc tư vấn về các loại bệnh, đội ngũ bác sĩ chuyên trách hỗ trợ, giải đáp vấn đề.
Thay đổi tư duy quản lý hệ thống phân phối
Cùng với việc thúc đẩy việc mở rộng phân phối, doanh nghiệp cần phải thay đổi cả về cách thức quản lý. Thay vì áp dụng những hình thức thủ công thì nên áp dụng công nghệ vào trong kênh phân phối để hỗ trợ thực hiện việc đánh giá đúng năng lực, thu thập thông tin thị trường, quản lý hoạt động kinh doanh, hỗ trợ bán hàng thương mại, chuẩn hóa quy trình làm việc của trình dược viên,.. Để làm được điều này các doanh nghiệp cần phải làm những điều sau:
– Ứng dụng công nghệ bán hàng trên thiết bị di động, máy tính bảng cho trình dược viên, giám sát,…giúp nhân viên có đầy đủ thông tin khi gặp khách hàng từ đó chăm sóc khách hàng tốt hơn, tăng đơn hàng và theo dõi chỉ tiêu được trên các thiết bị di động, smartphone.
– Tự động hóa quy trình mua bán của khách hàng, giảm thiểu tối đa các thao tác thủ công như đơn đặt hàng, quản lý kho, kiểm kho,… Dữ liệu phải được gửi về cho nhà quản lý theo thời gian thực; vừa giảm thiểu độ trễ đơn hàng vừa xóa bỏ tình trạng dữ liệu ảo.
– Giám sát chặt hoạt động của đội ngũ trình dược viên về vị trí, thời gian làm việc,…gửi về cho nhà quản lý tránh tình trạng nhân viên không làm việc.
– Những người quản lý, lãnh đạo công ty nên sử dụng thiết bị máy tính các nhân, thiết bị văn phòng kết nối xem được toàn bộ dữ liệu của công ty. Khi nhân viên sử dụng thiết bị di động, máy tính ghi nhận được toàn bộ quá trình giao dịch của nhân viên với khách hàng và bộ phận kế toán có thể truy cập vào hệ thống để ghi nhận các vấn đề về đơn hàng, giá bán,…

4. Những yếu tố ảnh hưởng đến Marketing dược

4. 1. Môi trường vĩ mô

Môi trường dân số:
Qui mô, mật độ và sự phân bổ dân cư, các xu hướng thay đổi về độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp v.v… đều có ảnh hưởng lớn tới các quyết định Marketing của doanh nghiệp. Chúng ta hãy xem xét những xu hướng nhân chủng học quan trọng trên thế giới và ở Việt nam: Bùng nổ dân số: hiện tại dân số thế giới khoảng 6 tỉ người và với tốc độ tăng 2% hàng năm thì trong vòng 30 năm tới, dân số sẽ tăng gấp đôi. Mặt khác, tốc độ tăng nhanh lại diễn ra ở các nước kém phát triển khiến tình trạng bất công, chênh lệch giàu nghèo càng trầm trọng.
Dân số tăng nhanh thì sự khai thác các nguồn tài nguyên càng ráo riết và sẽ không có đủ tài nguyên để duy trì cuộc sống của quá đông dân cư như thế. Ở Việt nam, sau nhiều năm Kế hoạch hóa gia đình, bây giờ lại không hạn chế sinh đẻ khiến dân số đang có nguy cơ tăng nhanh trở lại, nhất là ở các vùng nông thôn, miền núi còn nghèo và lạc hậu, khiến gánh nặng trợ cấp xã hội ngày một nặng nề.
Hiện tượng già hóa dân cư ở các nước phát triển và trẻ hóa ở các nước kém phát triển: Nhật, Mỹ và các nước châu Âu đang lo ngại về tỉ lệ người già tăng nhanh, trong khi giới trẻ không chịu sinh đẻ nhiều, họ đang dùng mọi biện pháp ưu đãi cho những người sinh con, nhưng xu hướng sống tự do, độc lập không thích ràng buộc khiến giới trẻ thờ ơ với việc sinh con, hoặc nếu có thì chỉ sinh 1 hay 2 con.
Mặt khác, khả năng sinh của họ ngày càng thấp đi do nhiều tác động. Trong khi đó, các nước đang hay kém phát triển thì tỉ lệ trẻ em và vị thành niên lại chiếm số đông. Điều này dẫn tới sự chuyển dịch về cơ cấu tiêu dùng: ở các nước phát triển thì nhu cầu về các dịch vụ và sản phẩm cho người cao tuổi tăng nhanh, trong khi ở các nước đang và kém phát triển thì các nhu cầu cho giáo dục và giải trí cho giới trẻ lại tăng cao.
Ở Việt nam: độ tuổi từ 15-35 chiếm gần 60% dân số, cho thấy một thị trường trẻ và năng động, thích ứng nhanh với các sản phẩm mới. Sự thay đổi phân bổ dân cư: xu hướng đô thị hóa và làn sóng nhập cư từ nông thôn lên thành thị diễn ra ở hầu hết các nước đang phát triển. Ở Việt nam, quá trình đô thị hóa và làn sóng nhập cư cũng gây ra nhiều ảnh hưởng cho thị trường tiêu dùng hàng hóa/dịch vụ. Rất nhiều người dân nông thôn ngày nay có thể tiếp cận và mua sắm các mặt hàng hiện đại qua người thân của họ di cư lên thành phố và mang về không chỉ hàng hóa mà lối sống thị dân

Môi trường kinh tế

Sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế tác động trực tiếp tới sức mua và cơ cấu chi tiêu của dân chúng. Sức mua phụ thuộc vào mức thu nhập hiện tại, chỉ số giá cả, lạm phát v.v… Một minh chứng cụ thể là cuộc khủng hoảng kinh tế khởi phát từ Mỹ giữa năm 2008 và nhanh chóng lan rộng toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức mua cho tới suốt năm 2009 tới nay mới có dấu hiệu phục hồi. Rất nhiều công ty lớn đã lâm vào cành phá sản hay đình trệ. Chính phủ nhiều nước phải bỏ ra cả tỉ đô la để kích cầu.
Việt nam cũng bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế, các doanh nghiệp đã phải nỗ lực hết sức để có thể vượt qua. Cơ cấu tiêu dùng cũng phụ thuộc vào thu nhập bình quân đầu người. Ở các nước phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao thì chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu ( ăn uống, nhà ở…) chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ, còn phần lớn là vào các dịch vụ như : giải trí, du lịch v.v…chính vì thế mà tại các nước này các ngành dịch vụ rất phát triển, có khi chiếm tới 70% sản lượng xã hội. Còn ở các nước nghèo, kém phát triển như Việt nam, thì tới 80% thu nhập được dành cho các nhu cầu cơ bản, phần còn lại dành cho tiết kiệm, và chỉ có rất ít được dành cho các nhu cầu về dịch vụ.
Lạm phát có ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc chi tiêu của dân chúng. Khi lạm phát tăng cao, người ta lại có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn là tiêu dùng. Nhất là ở Việt nam đồng tiền luôn trượt giá khiến người dân tích trữ vàng và ngoại tệ mạnh nhiều hơn là gửi tiết kiệm, dẫn đến nhiều hệ lụy không hay khi tỷ giá ngoại tệ hay giá vàng có biến động. Nhiều giao dịch tại Việt nam được tính bằng ngoại tệ hay vàng, chứ không phải bằng tiền Việt, đến nỗi nhà nước phải có qui định về việc niêm yết giá bằng tiền Việt, chứ nếu không mua từ cái USP tới cái pin điện thoại cũng phải qui từ USD ra tiền Việt ( tất nhiên theo tỉ giá chợ đen).

Môi trường tự nhiên

Sản xuất càng phát triển thì các ảnh hưởng tới tự nhiên càng nhiều, và ngược lại những biến đổi trong môi trường tự nhiên cũng ảnh hưởng tới sản phẩm các công ty sản xuất và đưa ra thị trường. Nạn khan hiếm tài nguyên: dầu mỏ, vàng v.v… ngày càng khan hiếm, và việc biến động giá vàng, giá dầu mỏ rõ ràng đã ảnh hưởng sâu sắc tới các nền kinh tế.
Ngay nước và không khí, những nguồn tài nguyên tưởng như vô tận mà cũng đang trong nguy cơ bị khai thác cạn kiệt và các tổ chức bảo vệ môi trường đang phải tích cực cảnh báo về nguy cơ khan hiếm. Sự tăng giá năng lượng và tài nguyên: giá nguyên nhiên liệu ngày càng tăng khiến nhiều ngành sản xuất lao đao và cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua rõ ràng xuất phát từ việc giá dầu thế giới tăng liên tục và đột biến.
Ô nhiễm môi trường: ô nhiễm môi trường nước và không khí, ô nhiễm tiếng ồn v.v.. đang là vấn nạn của thế giới và các tổ chức bảo vệ môi trường đang hoạt động tích cực để hạn chế tình trạng này. Bài học Vedan ở Việt nam cho ta thấy rõ một sản phẩm có thể bị người tiêu dùng lên án và tẩy chay khi nó góp phần làm ô nhiễm môi trường. Sự can thiệp của nhà nước vào việc sử dụng và tái chế tài nguyên: các nhóm dư luận xã hội luôn tạo áp lực đòi hỏi nhà nước và các cơ quan quản lí kiểm soát chặt chẽ hơn nữa việc khai thác tài nguyên, tái chế nguyên nhiên liệu và bảo vệ môi trường. Ngày nay hiếm có doanh nghiệp nào dám công khai thoái thác các trách nhiệm này

Môi trường khoa học kỹ thuật và công nghệ

Khoa học kỹ thuật và công nghệ có ảnh hưởng to lớn tới sản xuất, kinh doanh và cả sự tiêu thụ. Các phát minh mới, các tiến bộ của khoa học kỹ thuật sẽ làm ra các sản phẩm mới, đồng thời làm này sinh các nhu cầu mới và làm triệt tiêu cá công nghệ cụ hay nhu cầu cũ. Ví dụ, phát minh ra máy ảnh kỹ thuật số gây ảnh hưởng năng cho việc chụp hình dùng phim cổ điển, máy photocopy và máy tính làm biến mất những chiếc máy chữ cũ kỹ…
Khoa học kỹ thuật và công nghệ cũng giúp chúng ta khám phá các khả năng vô tận như: công nghệ sinh học, robot, nghiên cứu vũ trụ…. Ngày nay, để thành công, các công ty phải không ngừng đầu tư cho R&D ( Research and Development: Nghiên cứu và Phát triển) để phát minh hay tiếp cận và vận dụng các công nghệ và kỹ thuật mới để không ngừng cải tiến sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh. Ở Việt nam, công nghệ còn lạc hậu, nên nguy cơ tụt hậu là rất lớn, vì thế chúng ta cần đầu tư hơn cho giáo dục và thu hút chất xám để có thể phát triển một đội ngũ chuyên gia kỹ thuật và công nghệ giỏi.

Môi trường chính trị – pháp luật

Bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải hoạt động trong một thế chế chính trị nhất định và tuân thủ theo các hệ thống pháp luật, tuân thủ các cơ quan nhà nước và các nhóm gây ảnh hưởng ( hiệp hội…), các ảnh hưởng cộng đồng dân tộc, khu vực, và quốc tế. Hệ thống luật của một quốc gia bao gồm:
– Hiến pháp, các bộ luật ( dân sự, hình sự, thương mại, thuế, lao động…)
– Các chính sách và sự điều khiển, can thiệp của nhà nước tới doanh nghiệp Tại Việt nam, có ưu điểm là tính ổn định về chính trị cáo, không xảy ra đảo chính, bạo loạn nên thu hút được nhiều nhà đầu tư và làm cho các doanh nghiệp yên tâm sản xuất. Tuy nhiên, do hệ thống pháp luật còn chưa hoàn thiện, các văn bản luật quá nhiều và chồng chéo khiến các doanh nghiệp rất vất vả để thực thi, thậm chí đôi khi còn tại điều kiện cho các cơ quan hành pháp nhũng nhiễu và làm khó doanh nghiệp.

Môi trường văn hóa

Chúng ta có thể hiểu về văn hóa vắn tắt thế này: Văn hóa là hệ thống các chuẩn mực, giá trị, qui tắc hành vi mà mọi thành viên phải tôn trọng và tuân theo. Ví dụ như khi bạn là sinh viên thì phải trang phục chỉnh tề (bỏ áo trong quần), đeo thẻ sinh viên và không hút thuốc, cho dù bạn có thích điều đó hay không cũng phải chấp nhận. Văn hóa ảnh hưởng rất lớn tới các quyết định Marketing dưới các góc độ sau:
Văn hóa gốc và văn hóa phụ:
Văn hóa gốc ở Việt nam là văn hóa Á đông, văn hóa dân tộc Việt nam với các đặc trưng như tính cộng đồng cao, truyền thống hiếu học, sự đùm bọc nhường cơm sẻ áo, tinh thần tôn sư trọng đạo v.v… Còn văn hóa phụ có thể là văn hóa vùng miền, ví dụ miền Bắc có văn hóa làng xã rất chặt chẽ, các giá trị gia đình luôn được đề cao (như bữa cơm gia đình), còn miền Nam thì tự do và phóng khoáng hơn với các giá trị gia đình.
Văn hóa nghề nghiệp & văn hóa kinh doanh: mỗi nghề nghiệp lại có các chuẩn mực hành vi khác nhau. Một thầy giáo sẽ hành xử khác với một người lái taxi hay một anh thợ xây.
Sự hội nhập – các yếu tố chấp nhận và tẩy chay của một nền văn hóa với các văn hóa khác: Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ, đang mở cửa để hội nhập với thế giới. Dưới tác động của internet và các phương tiện truyền thông khác, các yếu tố văn hóa ngoại lai xâm nhập và ảnh hưởng lớn tới lối sống và hành vi tiêu dùng của người Việt, nhất là giới trẻ. Các xu hướng Hàn Quốc, Nhật bản trong mỹ phẩm và thời trang, trào lưu Hip Hop…. đang là những vấn đề gây nhiều tranh cãi.

4.2. Môi trường vi mô

Doanh nghiệp

Dưới đây là một ví dụ về sơ đồ tổ chức của một công ty ở Việt Nam. Có thể thấy rõ là không hề có bóng dáng của Phòng Marketing (có lẽ họ để bộ phận Marketing nằm trong Phòng kinh doanh – như vẫn thường thấy ở phần lớn các công ty Việt nam (?) – và không quan tâm mấy tới các hoạt động Marketing. Còn với các Công ty nước ngoài hay các tập đoàn lớn, bộ phận Marketing luôn có vai trò trung tâm và có liên quan chặt chẽ với tất cả các bộ phận còn lại của công ty.
Phòng tài chính luôn quan tâm tới vấn đề nguồn vốn- tài sản, và việc sử dụng vốn cần thiết để thực hiện các kế hoạch Marketing, đòi hỏi người làm Marketing cần phải biết lập và hoạch định ngân sách cũng như các kế hoạch chi tiêu cho các hoạt động Marketing.
Phòng kinh doanh luôn quan tâm tới việc nâng cao doanh số và mở rộng khách hàng. Suy cho cùng mọi hoạt động của Marketing cũng nhắm vào cùng mục tiêu ấy, cho nên Marketing luôn là sự hỗ trợ và phối hợp mật thiết nhất cho kinh doanh. Mặt khác, phòng kinh doanh là nơi cung cấp các thông tin nóng hổi và thực tế nhất từ thị trường cho những người làm Marketing.
Bộ phận sản xuất luôn cần các định hướng từ Marketing để có kế hoạch sản xuất phù hợp và kịp thời. Ngược lại, những trục trặc từ sản xuất có thể ảnh hưởng nặng nề tới các hoạt động của Marketing ( ví dụ ảnh hưởng tới chương trình từng sản phẩm mới hay khuyến mãi v.v…)
Từ những nhận xét ấy, chúng ta cần hiểu về khái niệm: Marketing nội bộ, tức là toàn bộ các nỗ lực tiếp thị nhắm tới toàn bộ nhân viên của công ty, không chỉ với tư cách là những người cùng tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm dịch vụ, mà còn với tư cách những khách hàng đầu tiên. Công tác Marketing không phải là nhiệm vụ của riêng những người làm việc trong bộ phận Marketing, mà còn là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn bộ nhân viên của CÔNG TY.

Những nhà cung ứng

Những người cung ứng là những cá nhân hay công ty cung cấp cho doanh nghiệp (và cả cho các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp) những nguồn vật tư, nguyên liệu (có thể gọi là đầu vào), để sản xuất ra sản phẩm và dịch vụ nhất định. Như vậy, sản phẩm cuối cùng của người này có thể là đầu vào của người kia. Ví dụ: Công ty Dệt Thái Tuấn sản xuất ra vải như các sản phẩm cuối cùng, thì những nhà của họ là các công ty sản xuất sợi, thuốc nhuộm v.v…
Tới lượt Thái Tuấn lại là nhà cung cấp cho các Công ty Thời trang hay May mặc sử dụng vải của Thái Tuấn để may quần áo. Như vậy, ta thấy các nhà cung cấp có thể ảnh hưởng tới chất lượng, giá thành và tiến trình sản xuất sản phẩm/dịch vụ. Nếu nhà cung cấp sợi chất lượng kém, giá cao hay chậm trễ tiến độ thì Thái Tuấn không thể dệt ra vải đẹp, chất lượng cao và giá thành hạ được. Như thế, Thái Tuấn cũng làm ảnh hưởng tới các Công ty may mặc, làm cho họ không thể có các sản phẩm quần áo mang tính cạnh tranh được.
Mặt khác, nếu chúng ta không làm các công tác Marketing với nhà cung cấp, họ sẽ không hiểu chúng ta cần những gì để phục vụ và thỏa mãn các nhu cầu, mong muốn của khách hàng mục tiêu. Chẳng hạn, chúng ta muốn mở quán cafe phục vụ sinh viên với giá rẻ, mà không làm rõ điều ấy với người bán café bột, thì họ có thể chào bán cho chúng ta loại café chồn hảo hạng rất đắt tiền thì chúng ta không thể nào sử dụng được cho kinh doanh có lãi.
Công tác Marketing cho nhà cung cấp phải thực hiện tốt việc cung cấp các thông tin cần thiết về thị trường mục tiêu ( nhu cầu, khả năng thanh toán, nhân chủng học, địa ly, v.v…), các yêu cầu của doanh nghiệp về các nguyên liệu vật tư đầu vào tốt nhất để có thể thiết kế và sản xuất các sản phẩm phù hợp.

Những môi giới trung gian

Những môi giới trung gian bao gồm những cá nhân hay doanh nghiệp hỗ trợ cho việc phân phối, tiêu thụ, quảng bá hàng hóa/dịch vụ cho thị trường. Họ bao gồm: Những môi giới thương mại: là những cá nhân hay doanh nghiệp phân phối và bán lẻ, tìm kiếm và/hoặc trực tiếp bán sản phẩm. Ví dụ hệ thống môi giới thương mại của Unilever là hàng ngàn tiệm tạp hóa, các Đại lí, các nhà phân phối, các siêu thị…
Tại sao doanh nghiệp cần có môi giới thương mại? Đó là vì không công ty nào có đủ khả năng tự thiết kế kênh phân phối bao trùm khắp thị trường. các môi giới thương mại đảm bảo tốt hơn, nhanh hơn các điều kiện thuận tiện về thời gian, địa điểm và thủ tục mua hàng cho các khách hàng mục tiêu, và tất nhiên với chi phí thường thấp hơn so với công ty tự làm.
Những môi giới lưu thông hàng hóa: Các cá nhân hay tổ chức giúp lưu thông hàng hóa, vận chuyển từ nơi dự trữ tới nơi cần thiết. Các môi giới này có tác dụng trong việc bảo đảm sự an toàn, đẩy nhanh tiêu thụ hàng hóa, giảm chi phí trung gian và làm tăng lợi nhuận nếu doanh nghiệp lựa chọn các môi giới tốt.
Những môi giới dịch vụ Marketing: Các cá nhân và tổ chức cung cấp các dịch vụ như nghiên cứu thị trường, quảng cáo, tư vấn marketing….giúp công ty có các định hướng tốt hơn và quảng bá hiệu quả hơn cho sản phẩm của mình. Ngày nay, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt thì các doanh nghiệp không thể nào tự mình làm hết các công tác này, mà cũng không thể làm tốt được, do vậy việc sử dụng các môi giới dịch vụ marketing là vô cùng cần thiết.
Những môi giới tổ chức tín dụng- tài chính: Các tổ chức hỗ trợ đầu tư, các ngân hàng, các công ty tín dụng, các công ty bảo hiểm… nhằm hỗ trợ công ty đầu tư và/bảo hiểm chống lại các rủi ro liên quan tới việc mua bán hàng hóa. Các môi giới này ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói chung, các môi giới trung gian này ảnh hưởng tới đầu ra của sản phẩm, cụ thể là ảnh hưởng tới giá bán lẻ, hình ảnh thương hiệu, uy tín công ty, tốc độ tiêu thụ v.v…
Giả sử các nhà phân phối và bán lẻ thực hiện không đúng các chương trình khuyến mãi tiêu dùng ( ví dụ: không phát quà khuyến mãi cho người tiêu dùng) thì uy tín và hình ảnh của công ty bị ảnh hưởng nghiệm trọng. Hoặc giả các nhà bán lẻ hạ giá sản phẩm để cạnh tranh lẫn nhau cũng ảnh hưởng tới hình ảnh công ty. Nhất là các môi giới marketing, nếu họ làm sai lệch hay không phù hợp các thông tin tời thị trường thì ảnh hưởng sâu sắc tới doanh nghiệp, trong nhiều trường hợp sản phẩm bị tầy chay chỉ vì các quảng cáo hay thông tin không phù hợp.
Do vậy, công tác Marketing cho môi giới trung gian bao gồm việc cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin về thị trường, giáo dục thường xuyên về các quan điểm và định hướng hành động marketing của doanh nghiệp, phối hợp thực hiện và giám sát chặt chẽ các hoạt động của họ để hạn chế tối đa các rủi ro và sai sót có thể xảy ra.

Khách hàng

Nhìn chung có năm dạng thị trường khách hàng mà doanh nghiệp cần quan tâm nghiên cứu kỹ:
Thị trường người tiêu dùng: những cá nhân, hộ dân, tổ chức mua hàng hóa/dịch vụ để sử dụng cho các nhu cầu tiêu dùng
Thị trường các nhà sản xuất: các khách hàng mua hàng hóa/dịch vụ để sử dụng như đầu vào của sản xuất.
Thị trường buôn bán trung gian: các cá nhân-tổ chức mua hàng hóa/dịch vụ để bán lại kiếm lời
Thị trường Nhà nước: các cơ quan nhà nước mua hàng hóa/dịch vụ để sử dụng công cộng hay chuyển giao cho những người cần thiết
Thị trường quốc tế: tất cả các đối tượng như trên nhưng ở các nước khác. Ví dụ Công ty Thái Tuấn có các cửa hàng bán vải trực tiếp cho Người tiêu dùng, cũng có các khách hàng là các sạp vải tại các chợ, có các nhà may, công ty thời trang mua vải về làm nguyên liệu, cũng cung cấp vải cho các tổ chức từ thiện, các cơ quan nhà nước và cũng xuất khẩu vải ra nhiều nước trên thế giới v.v…
Khách hàng là mục tiêu cuối cùng của Marketing, mọi nỗ lực Marketing suy cho cùng cũng là nhằm thỏa mãn cao nhất các nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Công tác Marketing cho khách hàng luôn được coi trong, tuy nhiên cần tỉnh táo để không quá sa đà vào marketing cho khách hàng mà quên đi các yếu tố ảnh hưởng khác.

Đối thủ cạnh tranh

Muốn xác định rõ đối thủ cạnh tranh thì phải nghiên cứu người ta quyết định mua sản phẩm đó như thế nào. Ví dụ, các nhà marketing có thể phỏng vấn bạn Linh (nhân vật chính của chúng ta) về việc nếu Linh có 10 triệu thì bạn ấy sẽ quyết định mua sắm thế nào. Đầu tiên, Linh có vài nhu cầu cần thỏa mãn như: cần có phương tiện để đi học, cần có phương tiện để phục vụ học tập, hay cần phương tiện để liên lạc.
Đó là các mong muốn mang tính cạnh tranh mà người tiêu dùng cần cân nhắc để thỏa mãn. Sau khi suy nghĩ, có thể Linh sẽ quyết định sẽ đầu tư 10 triệu đó cho phương tiện để đi học. Bây giờ Linh cần lựa chọn các loại hàng cạnh tranh có thể thỏa mãn nhu cầu ấy: xe đạp, xe đạp điện hay xe máy. Cân nhắc kỹ thì linh thấy xe máy là phù hợp và hấp dẫn nhất vì tính cơ động và tốc độ của nó so với hai loại kia.
Tiếp đến, Linh sẽ phải lựa chọn các mặt hàng cạnh tranh trong cùng chủng loại để chọn loại xe máy nào có thể phục vụ tốt nhất trong ngân sách cho phép: xe tay ga, xe số, xe nhập khẩu hay ráp trong nước v.v…Khi đã xác định là sẽ mua xe số, lắp ráp trong nước thì Linh sẽ cân nhắc tới các thương hiệu cạnh tranh: Honda, Suzuki, Yamaha, SYM v.v…
Từ ví dụ trên chúng ta thấy rõ có 4 loại cạnh tranh cơ bản: đó là các sản phẩm có thể đáp ứng các mong muốn mang tính cạnh tranh cho người tiêu dùng (các sản phẩm thay thế để thay đổi nhu cầu), các sản phẩm khác chủng loại mà đều có thể thỏa mãn một nhu cầu cụ thể, các sản phẩm cùng chủng loại để cùng đáp ứng nhu cầu đó, và cuối cùng là các nhãn hiệu cạnh tranh trong cùng một mặt hàng.
Công tác marketing ở đây cần nghiên cứu và làm rõ các nhu cầu và mong muốn cụ thể của thị trường, hiểu được các đối thủ cạnh tranh theo từng loại, thấy rõ điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ trong việc phục vụ các nhu cầu ấy từ đó tìm ra các ưu thế cạnh tranh để quảng bá và tuyên truyền cho ưu thế ấy nhằm thu hút sự quan tâm của khách hàng mục tiêu. Trong nhiều trường hợp, công ty cần tìm ra các thị trường ngách, các trận địa mà đối thủ bỏ trống hay chưa quan tâm tới, để tấn công.
#LV24 , #luan_van_24 , #luận_văn_24 , #dịch_vụ_chỉnh_sửa_luận_văn , #làm_đồ_án_thuê , #thuê_làm_khóa_luận_tốt_nghiệp , #viết_thuê_luận_án_tiến_sĩ
Xem thêm: https://luanvan24.com/khai-niem-marketing-duoc-dac-diem-va-cac-yeu-to-anh-huong/
submitted by dangthutra24 to u/dangthutra24 [link] [comments]

Khai niem marketing duoc dac diem va cac yeu to anh huong tai Luan Van 24

Trong bài viết này, Luận Văn 24 chuyên gia lam luan van thac si xin chia sẻ đến bạn đọc khái niệm marketing dược cùng những đặc điểm và những yếu tố ảnh hưởng đến marketing dược.
📷
Khái niệm marketing dược, đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng

1. Khái niệm marketing dược

Marketing chuyên ngành Dược là sự kết hợp giữa marketing căn bản và kiến thức chuyên ngành dược được các nhà marketing chuyên nghiệp vận dụng những công cụ trong marketing để đưa ra chiến lược và kế hoạch marketing phù hợp.
Marketing trong ngành dược phẩm nhằm quảng bá thuốc và những sản phẩm của thuốc nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng bán đúng đối tượng, đúng loại, đúng giá, đúng nơi cần.
Dược phẩm là một trong những ngành công nghiệp có chi phí đầu tư, nghiên cứu, phát triển thuốc mới lớn vì vậy chi phí trong marketing ngành dược cũng cao hơn rất nhiều so với chi phí ban đầu nghiên cứu sản phẩm mới. Vì vậy, người làm marketing dược cần phải sử dụng các chiến lược, chiến dịch khác nhau để nhắm vào những đối tượng nhân viên y tế và người bệnh.

2. Đặc điểm của marketing dược

Hoạt động Marketing dược đáp ứng 5 đúng: đúng thuốc, đúng số lượng, đúng nơi , đúng giá, đúng lúc
– Đúng thuốc: Xét theo góc độ trực tiếp, yêu cầu hệ thống marketing dược cung cấp thuốc đúng loại dược chất, đúng hàm lượng theo ghi trên nhãn, chính là phải đảm bảo chất lượng thuốc.
– Đúng số lượng thuốc: Marketing dược phải xác định được đúng số lượng thuốc sẽ sản xuất kinh doanh để tung ra thị trường. Phải xác định quy cách số lượng thuốc đóng gói sao cho phù hợp với thị trường mục tiêu (bệnh viện, hiệu thuốc bán lẻ …).
– Đúng nơi: Thứ nhất, với thuốc kê đơn do bác sĩ kê đơn và chỉ có dược sĩ được quyền phân phát. Hơn nữa, trách nhiệm của marketing trong nhiệm vụ “đúng nơi” là cần thiết phải duy trì mối quan hệ thương mại tốt với các phần tử khác của kênh phân phối. Vì vậy, những người bán lẻ, bán buôn và bệnh viện phải là một thể thống nhất với chính sách phân phối của nhà sản xuất.
– Đúng giá: Giá là một trong 4 chính sách của marketing – mix, và thực tế ở điều kiện kinh tế của nước ta thì giá là một yếu tố rất quan trọng. Đặc biệt thuốc là một loại hàng hóa tối cần, người tiêu dùng thường bắt buộc phải dùng cho điều trị bệnh tật. Hơn nữa tại nơi bán lẻ, thuốc là loại hàng gần như không có hiện tượng mặc cả.
– Đúng lúc: Sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thuốc là một trách nhiệm nữa của quản lý marketing dược có liên quan tới chức năng đúng nơi.
Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ làm thuê báo cáo thực tập , nhận viết assignment , hỗ trợ spss, viết tiểu luận thuê chuyên nghiệp nhất thị trường. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ từ A-Z.

3. Những chiến lược marketing dược

Quảng cáo
Quảng cáo là một trong những chiến lược được nhiều công ty, doanh nghiệp sử dụng để giúp cho hoạt động marketing dược phẩm tiếp thị, tiếp cận được với những khách hàng mới thông qua việc giới thiệu quảng bá qua các phương tiện đa dạng.
Bạn có thể tối ưu hoạt động marketing dược phẩm của công ty bằng cách chú trọng việc quảng cáo tại các bệnh viện, phòng khám, cơ sở y tế tư nhân,…qua kênh báo chí, sách hướng dẫn, tờ rơi, phát cho người bệnh hoặc các bác sĩ, dược sĩ,..
Trưng bày sản phẩm
Một trong những chiến dịch hiệu quả nữa là trưng bày sản phẩm. Ngành dược là ngành chuyên môn nên nếu không hiểu, không biết gì về sản phẩm thì người bệnh sẽ không dám mua, không dám sử dụng. Vì vậy, các doanh nghiệp dược, nhà sản xuất dược phẩm cần phải trưng bày sản phẩm của mình cho khách hàng thấy, tạo mối quan hệ tốt với các địa điểm bán dược phẩm để có thể trưng bày sản phẩm của công ty mình tại đó.
Xúc tiến thị trường
Chúng ta có thể xúc tiến thị trường trong ngành dược bằng nhiều phương án khác nhau như cung cấp các thông tin miễn phí về sức khỏe, những dụng cụ có ích cho sức khỏe hoặc cho người tiêu dùng thấy được sự quan tâm đến cộng đồng qua những sự kiện khám sức khỏe, tư vấn khám chữa bệnh miễn phí hoặc ưu đãi cho người già và trẻ nhỏ.
Chăm sóc thúc đẩy hệ thống bán lẻ
Điểm yếu chung của nhiều doanh nghiệp Việt Nam nói chung và ngành dược nói riêng theo nghiên cứu của trưởng khoa dược trường cao đẳng y dược Sài Gòn là ở khâu phân phối sản phẩm và thường phụ thuộc vào hệ thống bán buôn. Điều này sẽ khiến tính lệ thuộc cao và rất dễ tạo ra những cơn sốt giá ảo khiến khách hàng từ chối không mua hàng nữa hoặc nếu mối quan hệ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối không tốt thì cũng có khả năng mất mối bán hàng và bị gián đoạn ngay. Vì vậy thay vì bán buôn thì hãy thử một số cách phân phối, bán thuốc thông minh sau đây:

– Mở rộng kênh OTC (bán hàng trực tiếp qua nhà thuốc)

Hiện nay, theo khảo sát của Việt Nam Report đánh giá về các chiến lược của nhiều doanh nghiệp Dược Việt thì đã có 67% doanh nghiệp phản hồi sẽ phát triển mở rộng kênh OTC cho thấy các doanh nghiệp đang dần quan tâm tới thị trường bán le ngoài thị trường nhiều hơn. Thị trường bán lẻ này có tới khoảng 50.000 nhà thuốc chiếm giữ tới 95% thị phần.
Việc tận dụng marketing bằng kênh này luôn sẽ thúc đẩy doanh nghiệp dược phát triển nhanh chóng. Nhiều nhà sản xuất dược phẩm đã đạt được được thành công lớn nhờ bán hàng qua kênh này là: Traphaco, dược Hậu Giang,…

– Hợp tác phân phối sản phẩm với chuỗi nhà thuốc GPP

Đây là một trong những cách marketing khôn ngoan dù chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ những người dân vẫn giữ thói quen mua thuốc tại những cửa hàng truyền thống. Việc xây dựng nhà thuốc GPP là xu hướng mới của tương lai. Việc này không chỉ phù hợp với thị trường mà còn có được sự hậu thuẫn từ chính phủ. Đây là cách đi tốt nhất với những doanh nghiệp không có khả năng xây dựng chuỗi nhà thuốc riêng.

– Phân phối thông qua siêu thị thuốc

Mô hình kinh doanh này đã được phổ biến tại nhiều nước như Canada, Mỹ,…thực hiện việc bán kết hợp giữa thuốc và các sản phẩm hóa dược, thiết bị y tế như hình thức siêu thị tự chọn. Tuy nhiên, hiện nay người Việt Nam vẫn chỉ quen mua thuốc lẻ, từng viên chứ không mua theo hộp, và cũng không quen mua kết hợp với các sản phẩm khác. Vì vậy nếu muốn thúc đẩy phát triển theo mô hình phân phối thông qua siêu thị thì phải thay đổi nhận thức, thói quen của người tiêu dùng trước. Việc bán qua siêu thị sẽ chỉ cho phép bán các loại thuốc thông thường, không cần kê đơn như thuốc cảm, sổ mũi, vitamin…

– Xây dựng đội ngũ trình dược viên kết nối dược sĩ

Dược phẩm là lĩnh vực có tính bất đối xứng thông tin rất cao giữa người cung cấp thuốc (bác sĩ, dược sĩ) và người sử dụng. Họ không có quyền thương lượng trong giao dịch khám chữa bệnh của chính bản thân; chỉ biết ngày uống mấy lần, trước hay sau khi ăn.
Vì vậy, bác sĩ và dược sĩ là người quyết định thuốc có được bán hay không, còn các mắt xích trong kênh phân phối chỉ làm nhiệm vụ trung gian đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Chính vì vậy các doanh nghiệp dược nên có thêm đội ngũ trình dược viên để thuận tiện cho việc cung cấp những kiến thức mới về thuốc.
Quan tâm đến người tiêu dùng cuối
Hiện nay, người tiêu dùng của ngành dược phẩm đang hoàn toàn bị động trong việc mua thuốc và phụ thuộc vào bác sĩ, dược sĩ. Hãy thử phân tích những cách marketing mới nếu thuốc được bán qua các phần mềm, thiết bị di động như thế nào nhé!
– App người tiêu dùng: có thể tra cứu thông tin về tính năng, xuất xứ, so sánh giá cả,…của các loại thuốc, vật tư thiết bị y tế, thực phẩm chức năng, tìm kiếm thông tin bác sĩ chuyên khoa, địa chỉ bệnh viện, đặt lịch hẹn, đăng ký tham gia những buổi hội thảo, hướng dẫn cách uống thuốc đúng giờ,…
– Website thương mại điện tử: Cung cấp thông tin đầy đủ về lĩnh vực dược phẩm, giá thành các loại thuốc tương quan với thị trường, có thể trực tiếp xin khiếu nại hoặc tư vấn về các loại bệnh, đội ngũ bác sĩ chuyên trách hỗ trợ, giải đáp vấn đề.
Thay đổi tư duy quản lý hệ thống phân phối
Cùng với việc thúc đẩy việc mở rộng phân phối, doanh nghiệp cần phải thay đổi cả về cách thức quản lý. Thay vì áp dụng những hình thức thủ công thì nên áp dụng công nghệ vào trong kênh phân phối để hỗ trợ thực hiện việc đánh giá đúng năng lực, thu thập thông tin thị trường, quản lý hoạt động kinh doanh, hỗ trợ bán hàng thương mại, chuẩn hóa quy trình làm việc của trình dược viên,.. Để làm được điều này các doanh nghiệp cần phải làm những điều sau:
– Ứng dụng công nghệ bán hàng trên thiết bị di động, máy tính bảng cho trình dược viên, giám sát,…giúp nhân viên có đầy đủ thông tin khi gặp khách hàng từ đó chăm sóc khách hàng tốt hơn, tăng đơn hàng và theo dõi chỉ tiêu được trên các thiết bị di động, smartphone.
– Tự động hóa quy trình mua bán của khách hàng, giảm thiểu tối đa các thao tác thủ công như đơn đặt hàng, quản lý kho, kiểm kho,… Dữ liệu phải được gửi về cho nhà quản lý theo thời gian thực; vừa giảm thiểu độ trễ đơn hàng vừa xóa bỏ tình trạng dữ liệu ảo.
– Giám sát chặt hoạt động của đội ngũ trình dược viên về vị trí, thời gian làm việc,…gửi về cho nhà quản lý tránh tình trạng nhân viên không làm việc.
– Những người quản lý, lãnh đạo công ty nên sử dụng thiết bị máy tính các nhân, thiết bị văn phòng kết nối xem được toàn bộ dữ liệu của công ty. Khi nhân viên sử dụng thiết bị di động, máy tính ghi nhận được toàn bộ quá trình giao dịch của nhân viên với khách hàng và bộ phận kế toán có thể truy cập vào hệ thống để ghi nhận các vấn đề về đơn hàng, giá bán,…

4. Những yếu tố ảnh hưởng đến Marketing dược

4. 1. Môi trường vĩ mô

Môi trường dân số:
Qui mô, mật độ và sự phân bổ dân cư, các xu hướng thay đổi về độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp v.v… đều có ảnh hưởng lớn tới các quyết định Marketing của doanh nghiệp. Chúng ta hãy xem xét những xu hướng nhân chủng học quan trọng trên thế giới và ở Việt nam: Bùng nổ dân số: hiện tại dân số thế giới khoảng 6 tỉ người và với tốc độ tăng 2% hàng năm thì trong vòng 30 năm tới, dân số sẽ tăng gấp đôi. Mặt khác, tốc độ tăng nhanh lại diễn ra ở các nước kém phát triển khiến tình trạng bất công, chênh lệch giàu nghèo càng trầm trọng.
Dân số tăng nhanh thì sự khai thác các nguồn tài nguyên càng ráo riết và sẽ không có đủ tài nguyên để duy trì cuộc sống của quá đông dân cư như thế. Ở Việt nam, sau nhiều năm Kế hoạch hóa gia đình, bây giờ lại không hạn chế sinh đẻ khiến dân số đang có nguy cơ tăng nhanh trở lại, nhất là ở các vùng nông thôn, miền núi còn nghèo và lạc hậu, khiến gánh nặng trợ cấp xã hội ngày một nặng nề.
Hiện tượng già hóa dân cư ở các nước phát triển và trẻ hóa ở các nước kém phát triển: Nhật, Mỹ và các nước châu Âu đang lo ngại về tỉ lệ người già tăng nhanh, trong khi giới trẻ không chịu sinh đẻ nhiều, họ đang dùng mọi biện pháp ưu đãi cho những người sinh con, nhưng xu hướng sống tự do, độc lập không thích ràng buộc khiến giới trẻ thờ ơ với việc sinh con, hoặc nếu có thì chỉ sinh 1 hay 2 con.
Mặt khác, khả năng sinh của họ ngày càng thấp đi do nhiều tác động. Trong khi đó, các nước đang hay kém phát triển thì tỉ lệ trẻ em và vị thành niên lại chiếm số đông. Điều này dẫn tới sự chuyển dịch về cơ cấu tiêu dùng: ở các nước phát triển thì nhu cầu về các dịch vụ và sản phẩm cho người cao tuổi tăng nhanh, trong khi ở các nước đang và kém phát triển thì các nhu cầu cho giáo dục và giải trí cho giới trẻ lại tăng cao.
Ở Việt nam: độ tuổi từ 15-35 chiếm gần 60% dân số, cho thấy một thị trường trẻ và năng động, thích ứng nhanh với các sản phẩm mới. Sự thay đổi phân bổ dân cư: xu hướng đô thị hóa và làn sóng nhập cư từ nông thôn lên thành thị diễn ra ở hầu hết các nước đang phát triển. Ở Việt nam, quá trình đô thị hóa và làn sóng nhập cư cũng gây ra nhiều ảnh hưởng cho thị trường tiêu dùng hàng hóa/dịch vụ. Rất nhiều người dân nông thôn ngày nay có thể tiếp cận và mua sắm các mặt hàng hiện đại qua người thân của họ di cư lên thành phố và mang về không chỉ hàng hóa mà lối sống thị dân

Môi trường kinh tế

Sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế tác động trực tiếp tới sức mua và cơ cấu chi tiêu của dân chúng. Sức mua phụ thuộc vào mức thu nhập hiện tại, chỉ số giá cả, lạm phát v.v… Một minh chứng cụ thể là cuộc khủng hoảng kinh tế khởi phát từ Mỹ giữa năm 2008 và nhanh chóng lan rộng toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức mua cho tới suốt năm 2009 tới nay mới có dấu hiệu phục hồi. Rất nhiều công ty lớn đã lâm vào cành phá sản hay đình trệ. Chính phủ nhiều nước phải bỏ ra cả tỉ đô la để kích cầu.
Việt nam cũng bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế, các doanh nghiệp đã phải nỗ lực hết sức để có thể vượt qua. Cơ cấu tiêu dùng cũng phụ thuộc vào thu nhập bình quân đầu người. Ở các nước phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao thì chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu ( ăn uống, nhà ở…) chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ, còn phần lớn là vào các dịch vụ như : giải trí, du lịch v.v…chính vì thế mà tại các nước này các ngành dịch vụ rất phát triển, có khi chiếm tới 70% sản lượng xã hội. Còn ở các nước nghèo, kém phát triển như Việt nam, thì tới 80% thu nhập được dành cho các nhu cầu cơ bản, phần còn lại dành cho tiết kiệm, và chỉ có rất ít được dành cho các nhu cầu về dịch vụ.
Lạm phát có ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc chi tiêu của dân chúng. Khi lạm phát tăng cao, người ta lại có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn là tiêu dùng. Nhất là ở Việt nam đồng tiền luôn trượt giá khiến người dân tích trữ vàng và ngoại tệ mạnh nhiều hơn là gửi tiết kiệm, dẫn đến nhiều hệ lụy không hay khi tỷ giá ngoại tệ hay giá vàng có biến động. Nhiều giao dịch tại Việt nam được tính bằng ngoại tệ hay vàng, chứ không phải bằng tiền Việt, đến nỗi nhà nước phải có qui định về việc niêm yết giá bằng tiền Việt, chứ nếu không mua từ cái USP tới cái pin điện thoại cũng phải qui từ USD ra tiền Việt ( tất nhiên theo tỉ giá chợ đen).

Môi trường tự nhiên

Sản xuất càng phát triển thì các ảnh hưởng tới tự nhiên càng nhiều, và ngược lại những biến đổi trong môi trường tự nhiên cũng ảnh hưởng tới sản phẩm các công ty sản xuất và đưa ra thị trường. Nạn khan hiếm tài nguyên: dầu mỏ, vàng v.v… ngày càng khan hiếm, và việc biến động giá vàng, giá dầu mỏ rõ ràng đã ảnh hưởng sâu sắc tới các nền kinh tế.
Ngay nước và không khí, những nguồn tài nguyên tưởng như vô tận mà cũng đang trong nguy cơ bị khai thác cạn kiệt và các tổ chức bảo vệ môi trường đang phải tích cực cảnh báo về nguy cơ khan hiếm. Sự tăng giá năng lượng và tài nguyên: giá nguyên nhiên liệu ngày càng tăng khiến nhiều ngành sản xuất lao đao và cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua rõ ràng xuất phát từ việc giá dầu thế giới tăng liên tục và đột biến.
Ô nhiễm môi trường: ô nhiễm môi trường nước và không khí, ô nhiễm tiếng ồn v.v.. đang là vấn nạn của thế giới và các tổ chức bảo vệ môi trường đang hoạt động tích cực để hạn chế tình trạng này. Bài học Vedan ở Việt nam cho ta thấy rõ một sản phẩm có thể bị người tiêu dùng lên án và tẩy chay khi nó góp phần làm ô nhiễm môi trường. Sự can thiệp của nhà nước vào việc sử dụng và tái chế tài nguyên: các nhóm dư luận xã hội luôn tạo áp lực đòi hỏi nhà nước và các cơ quan quản lí kiểm soát chặt chẽ hơn nữa việc khai thác tài nguyên, tái chế nguyên nhiên liệu và bảo vệ môi trường. Ngày nay hiếm có doanh nghiệp nào dám công khai thoái thác các trách nhiệm này

Môi trường khoa học kỹ thuật và công nghệ

Khoa học kỹ thuật và công nghệ có ảnh hưởng to lớn tới sản xuất, kinh doanh và cả sự tiêu thụ. Các phát minh mới, các tiến bộ của khoa học kỹ thuật sẽ làm ra các sản phẩm mới, đồng thời làm này sinh các nhu cầu mới và làm triệt tiêu cá công nghệ cụ hay nhu cầu cũ. Ví dụ, phát minh ra máy ảnh kỹ thuật số gây ảnh hưởng năng cho việc chụp hình dùng phim cổ điển, máy photocopy và máy tính làm biến mất những chiếc máy chữ cũ kỹ…
Khoa học kỹ thuật và công nghệ cũng giúp chúng ta khám phá các khả năng vô tận như: công nghệ sinh học, robot, nghiên cứu vũ trụ…. Ngày nay, để thành công, các công ty phải không ngừng đầu tư cho R&D ( Research and Development: Nghiên cứu và Phát triển) để phát minh hay tiếp cận và vận dụng các công nghệ và kỹ thuật mới để không ngừng cải tiến sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh. Ở Việt nam, công nghệ còn lạc hậu, nên nguy cơ tụt hậu là rất lớn, vì thế chúng ta cần đầu tư hơn cho giáo dục và thu hút chất xám để có thể phát triển một đội ngũ chuyên gia kỹ thuật và công nghệ giỏi.

Môi trường chính trị – pháp luật

Bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải hoạt động trong một thế chế chính trị nhất định và tuân thủ theo các hệ thống pháp luật, tuân thủ các cơ quan nhà nước và các nhóm gây ảnh hưởng ( hiệp hội…), các ảnh hưởng cộng đồng dân tộc, khu vực, và quốc tế. Hệ thống luật của một quốc gia bao gồm:
– Hiến pháp, các bộ luật ( dân sự, hình sự, thương mại, thuế, lao động…)
– Các chính sách và sự điều khiển, can thiệp của nhà nước tới doanh nghiệp Tại Việt nam, có ưu điểm là tính ổn định về chính trị cáo, không xảy ra đảo chính, bạo loạn nên thu hút được nhiều nhà đầu tư và làm cho các doanh nghiệp yên tâm sản xuất. Tuy nhiên, do hệ thống pháp luật còn chưa hoàn thiện, các văn bản luật quá nhiều và chồng chéo khiến các doanh nghiệp rất vất vả để thực thi, thậm chí đôi khi còn tại điều kiện cho các cơ quan hành pháp nhũng nhiễu và làm khó doanh nghiệp.

Môi trường văn hóa

Chúng ta có thể hiểu về văn hóa vắn tắt thế này: Văn hóa là hệ thống các chuẩn mực, giá trị, qui tắc hành vi mà mọi thành viên phải tôn trọng và tuân theo. Ví dụ như khi bạn là sinh viên thì phải trang phục chỉnh tề (bỏ áo trong quần), đeo thẻ sinh viên và không hút thuốc, cho dù bạn có thích điều đó hay không cũng phải chấp nhận. Văn hóa ảnh hưởng rất lớn tới các quyết định Marketing dưới các góc độ sau:
Văn hóa gốc và văn hóa phụ:
Văn hóa gốc ở Việt nam là văn hóa Á đông, văn hóa dân tộc Việt nam với các đặc trưng như tính cộng đồng cao, truyền thống hiếu học, sự đùm bọc nhường cơm sẻ áo, tinh thần tôn sư trọng đạo v.v… Còn văn hóa phụ có thể là văn hóa vùng miền, ví dụ miền Bắc có văn hóa làng xã rất chặt chẽ, các giá trị gia đình luôn được đề cao (như bữa cơm gia đình), còn miền Nam thì tự do và phóng khoáng hơn với các giá trị gia đình.
Văn hóa nghề nghiệp & văn hóa kinh doanh: mỗi nghề nghiệp lại có các chuẩn mực hành vi khác nhau. Một thầy giáo sẽ hành xử khác với một người lái taxi hay một anh thợ xây.
Sự hội nhập – các yếu tố chấp nhận và tẩy chay của một nền văn hóa với các văn hóa khác: Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ, đang mở cửa để hội nhập với thế giới. Dưới tác động của internet và các phương tiện truyền thông khác, các yếu tố văn hóa ngoại lai xâm nhập và ảnh hưởng lớn tới lối sống và hành vi tiêu dùng của người Việt, nhất là giới trẻ. Các xu hướng Hàn Quốc, Nhật bản trong mỹ phẩm và thời trang, trào lưu Hip Hop…. đang là những vấn đề gây nhiều tranh cãi.

4.2. Môi trường vi mô

Doanh nghiệp

Dưới đây là một ví dụ về sơ đồ tổ chức của một công ty ở Việt Nam. Có thể thấy rõ là không hề có bóng dáng của Phòng Marketing (có lẽ họ để bộ phận Marketing nằm trong Phòng kinh doanh – như vẫn thường thấy ở phần lớn các công ty Việt nam (?) – và không quan tâm mấy tới các hoạt động Marketing. Còn với các Công ty nước ngoài hay các tập đoàn lớn, bộ phận Marketing luôn có vai trò trung tâm và có liên quan chặt chẽ với tất cả các bộ phận còn lại của công ty.
Phòng tài chính luôn quan tâm tới vấn đề nguồn vốn- tài sản, và việc sử dụng vốn cần thiết để thực hiện các kế hoạch Marketing, đòi hỏi người làm Marketing cần phải biết lập và hoạch định ngân sách cũng như các kế hoạch chi tiêu cho các hoạt động Marketing.
Phòng kinh doanh luôn quan tâm tới việc nâng cao doanh số và mở rộng khách hàng. Suy cho cùng mọi hoạt động của Marketing cũng nhắm vào cùng mục tiêu ấy, cho nên Marketing luôn là sự hỗ trợ và phối hợp mật thiết nhất cho kinh doanh. Mặt khác, phòng kinh doanh là nơi cung cấp các thông tin nóng hổi và thực tế nhất từ thị trường cho những người làm Marketing.
Bộ phận sản xuất luôn cần các định hướng từ Marketing để có kế hoạch sản xuất phù hợp và kịp thời. Ngược lại, những trục trặc từ sản xuất có thể ảnh hưởng nặng nề tới các hoạt động của Marketing ( ví dụ ảnh hưởng tới chương trình từng sản phẩm mới hay khuyến mãi v.v…)
Từ những nhận xét ấy, chúng ta cần hiểu về khái niệm: Marketing nội bộ, tức là toàn bộ các nỗ lực tiếp thị nhắm tới toàn bộ nhân viên của công ty, không chỉ với tư cách là những người cùng tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm dịch vụ, mà còn với tư cách những khách hàng đầu tiên. Công tác Marketing không phải là nhiệm vụ của riêng những người làm việc trong bộ phận Marketing, mà còn là trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn bộ nhân viên của CÔNG TY.

Những nhà cung ứng

Những người cung ứng là những cá nhân hay công ty cung cấp cho doanh nghiệp (và cả cho các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp) những nguồn vật tư, nguyên liệu (có thể gọi là đầu vào), để sản xuất ra sản phẩm và dịch vụ nhất định. Như vậy, sản phẩm cuối cùng của người này có thể là đầu vào của người kia. Ví dụ: Công ty Dệt Thái Tuấn sản xuất ra vải như các sản phẩm cuối cùng, thì những nhà của họ là các công ty sản xuất sợi, thuốc nhuộm v.v…
Tới lượt Thái Tuấn lại là nhà cung cấp cho các Công ty Thời trang hay May mặc sử dụng vải của Thái Tuấn để may quần áo. Như vậy, ta thấy các nhà cung cấp có thể ảnh hưởng tới chất lượng, giá thành và tiến trình sản xuất sản phẩm/dịch vụ. Nếu nhà cung cấp sợi chất lượng kém, giá cao hay chậm trễ tiến độ thì Thái Tuấn không thể dệt ra vải đẹp, chất lượng cao và giá thành hạ được. Như thế, Thái Tuấn cũng làm ảnh hưởng tới các Công ty may mặc, làm cho họ không thể có các sản phẩm quần áo mang tính cạnh tranh được.
Mặt khác, nếu chúng ta không làm các công tác Marketing với nhà cung cấp, họ sẽ không hiểu chúng ta cần những gì để phục vụ và thỏa mãn các nhu cầu, mong muốn của khách hàng mục tiêu. Chẳng hạn, chúng ta muốn mở quán cafe phục vụ sinh viên với giá rẻ, mà không làm rõ điều ấy với người bán café bột, thì họ có thể chào bán cho chúng ta loại café chồn hảo hạng rất đắt tiền thì chúng ta không thể nào sử dụng được cho kinh doanh có lãi.
Công tác Marketing cho nhà cung cấp phải thực hiện tốt việc cung cấp các thông tin cần thiết về thị trường mục tiêu ( nhu cầu, khả năng thanh toán, nhân chủng học, địa ly, v.v…), các yêu cầu của doanh nghiệp về các nguyên liệu vật tư đầu vào tốt nhất để có thể thiết kế và sản xuất các sản phẩm phù hợp.

Những môi giới trung gian

Những môi giới trung gian bao gồm những cá nhân hay doanh nghiệp hỗ trợ cho việc phân phối, tiêu thụ, quảng bá hàng hóa/dịch vụ cho thị trường. Họ bao gồm: Những môi giới thương mại: là những cá nhân hay doanh nghiệp phân phối và bán lẻ, tìm kiếm và/hoặc trực tiếp bán sản phẩm. Ví dụ hệ thống môi giới thương mại của Unilever là hàng ngàn tiệm tạp hóa, các Đại lí, các nhà phân phối, các siêu thị…
Tại sao doanh nghiệp cần có môi giới thương mại? Đó là vì không công ty nào có đủ khả năng tự thiết kế kênh phân phối bao trùm khắp thị trường. các môi giới thương mại đảm bảo tốt hơn, nhanh hơn các điều kiện thuận tiện về thời gian, địa điểm và thủ tục mua hàng cho các khách hàng mục tiêu, và tất nhiên với chi phí thường thấp hơn so với công ty tự làm.
Những môi giới lưu thông hàng hóa: Các cá nhân hay tổ chức giúp lưu thông hàng hóa, vận chuyển từ nơi dự trữ tới nơi cần thiết. Các môi giới này có tác dụng trong việc bảo đảm sự an toàn, đẩy nhanh tiêu thụ hàng hóa, giảm chi phí trung gian và làm tăng lợi nhuận nếu doanh nghiệp lựa chọn các môi giới tốt.
Những môi giới dịch vụ Marketing: Các cá nhân và tổ chức cung cấp các dịch vụ như nghiên cứu thị trường, quảng cáo, tư vấn marketing….giúp công ty có các định hướng tốt hơn và quảng bá hiệu quả hơn cho sản phẩm của mình. Ngày nay, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt thì các doanh nghiệp không thể nào tự mình làm hết các công tác này, mà cũng không thể làm tốt được, do vậy việc sử dụng các môi giới dịch vụ marketing là vô cùng cần thiết.
Những môi giới tổ chức tín dụng- tài chính: Các tổ chức hỗ trợ đầu tư, các ngân hàng, các công ty tín dụng, các công ty bảo hiểm… nhằm hỗ trợ công ty đầu tư và/bảo hiểm chống lại các rủi ro liên quan tới việc mua bán hàng hóa. Các môi giới này ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói chung, các môi giới trung gian này ảnh hưởng tới đầu ra của sản phẩm, cụ thể là ảnh hưởng tới giá bán lẻ, hình ảnh thương hiệu, uy tín công ty, tốc độ tiêu thụ v.v…
Giả sử các nhà phân phối và bán lẻ thực hiện không đúng các chương trình khuyến mãi tiêu dùng ( ví dụ: không phát quà khuyến mãi cho người tiêu dùng) thì uy tín và hình ảnh của công ty bị ảnh hưởng nghiệm trọng. Hoặc giả các nhà bán lẻ hạ giá sản phẩm để cạnh tranh lẫn nhau cũng ảnh hưởng tới hình ảnh công ty. Nhất là các môi giới marketing, nếu họ làm sai lệch hay không phù hợp các thông tin tời thị trường thì ảnh hưởng sâu sắc tới doanh nghiệp, trong nhiều trường hợp sản phẩm bị tầy chay chỉ vì các quảng cáo hay thông tin không phù hợp.
Do vậy, công tác Marketing cho môi giới trung gian bao gồm việc cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin về thị trường, giáo dục thường xuyên về các quan điểm và định hướng hành động marketing của doanh nghiệp, phối hợp thực hiện và giám sát chặt chẽ các hoạt động của họ để hạn chế tối đa các rủi ro và sai sót có thể xảy ra.

Khách hàng

Nhìn chung có năm dạng thị trường khách hàng mà doanh nghiệp cần quan tâm nghiên cứu kỹ:
Thị trường người tiêu dùng: những cá nhân, hộ dân, tổ chức mua hàng hóa/dịch vụ để sử dụng cho các nhu cầu tiêu dùng
Thị trường các nhà sản xuất: các khách hàng mua hàng hóa/dịch vụ để sử dụng như đầu vào của sản xuất.
Thị trường buôn bán trung gian: các cá nhân-tổ chức mua hàng hóa/dịch vụ để bán lại kiếm lời
Thị trường Nhà nước: các cơ quan nhà nước mua hàng hóa/dịch vụ để sử dụng công cộng hay chuyển giao cho những người cần thiết
Thị trường quốc tế: tất cả các đối tượng như trên nhưng ở các nước khác. Ví dụ Công ty Thái Tuấn có các cửa hàng bán vải trực tiếp cho Người tiêu dùng, cũng có các khách hàng là các sạp vải tại các chợ, có các nhà may, công ty thời trang mua vải về làm nguyên liệu, cũng cung cấp vải cho các tổ chức từ thiện, các cơ quan nhà nước và cũng xuất khẩu vải ra nhiều nước trên thế giới v.v…
Khách hàng là mục tiêu cuối cùng của Marketing, mọi nỗ lực Marketing suy cho cùng cũng là nhằm thỏa mãn cao nhất các nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Công tác Marketing cho khách hàng luôn được coi trong, tuy nhiên cần tỉnh táo để không quá sa đà vào marketing cho khách hàng mà quên đi các yếu tố ảnh hưởng khác.

Đối thủ cạnh tranh

Muốn xác định rõ đối thủ cạnh tranh thì phải nghiên cứu người ta quyết định mua sản phẩm đó như thế nào. Ví dụ, các nhà marketing có thể phỏng vấn bạn Linh (nhân vật chính của chúng ta) về việc nếu Linh có 10 triệu thì bạn ấy sẽ quyết định mua sắm thế nào. Đầu tiên, Linh có vài nhu cầu cần thỏa mãn như: cần có phương tiện để đi học, cần có phương tiện để phục vụ học tập, hay cần phương tiện để liên lạc.
Đó là các mong muốn mang tính cạnh tranh mà người tiêu dùng cần cân nhắc để thỏa mãn. Sau khi suy nghĩ, có thể Linh sẽ quyết định sẽ đầu tư 10 triệu đó cho phương tiện để đi học. Bây giờ Linh cần lựa chọn các loại hàng cạnh tranh có thể thỏa mãn nhu cầu ấy: xe đạp, xe đạp điện hay xe máy. Cân nhắc kỹ thì linh thấy xe máy là phù hợp và hấp dẫn nhất vì tính cơ động và tốc độ của nó so với hai loại kia.
Tiếp đến, Linh sẽ phải lựa chọn các mặt hàng cạnh tranh trong cùng chủng loại để chọn loại xe máy nào có thể phục vụ tốt nhất trong ngân sách cho phép: xe tay ga, xe số, xe nhập khẩu hay ráp trong nước v.v…Khi đã xác định là sẽ mua xe số, lắp ráp trong nước thì Linh sẽ cân nhắc tới các thương hiệu cạnh tranh: Honda, Suzuki, Yamaha, SYM v.v…
Từ ví dụ trên chúng ta thấy rõ có 4 loại cạnh tranh cơ bản: đó là các sản phẩm có thể đáp ứng các mong muốn mang tính cạnh tranh cho người tiêu dùng (các sản phẩm thay thế để thay đổi nhu cầu), các sản phẩm khác chủng loại mà đều có thể thỏa mãn một nhu cầu cụ thể, các sản phẩm cùng chủng loại để cùng đáp ứng nhu cầu đó, và cuối cùng là các nhãn hiệu cạnh tranh trong cùng một mặt hàng.
Công tác marketing ở đây cần nghiên cứu và làm rõ các nhu cầu và mong muốn cụ thể của thị trường, hiểu được các đối thủ cạnh tranh theo từng loại, thấy rõ điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ trong việc phục vụ các nhu cầu ấy từ đó tìm ra các ưu thế cạnh tranh để quảng bá và tuyên truyền cho ưu thế ấy nhằm thu hút sự quan tâm của khách hàng mục tiêu. Trong nhiều trường hợp, công ty cần tìm ra các thị trường ngách, các trận địa mà đối thủ bỏ trống hay chưa quan tâm tới, để tấn công.
#LV24 , #luan_van_24 , #luận_văn_24 , #dịch_vụ_chỉnh_sửa_luận_văn , #làm_đồ_án_thuê , #thuê_làm_khóa_luận_tốt_nghiệp , #viết_thuê_luận_án_tiến_sĩ
Xem thêm: https://luanvan24.com/khai-niem-marketing-duoc-dac-diem-va-cac-yeu-to-anh-huong/
submitted by luanvan24 to u/luanvan24 [link] [comments]

Lịch Tiêm Chủng Cho Trẻ – Những Điều Cha Mẹ Cần Biết

Lịch Tiêm Chủng Cho Trẻ – Những Điều Cha Mẹ Cần Biết
Vì sức khỏe và tương lai của con, hãy tiêm chủng cho con đầy đủ, đúng lịch, đúng phác đồ để bảo vệ con khỏi những mầm bệnh lây nhiễm nguy hiểm như sởi, cúm, Rubella, Thủy đậu, viêm màng não…
Hệ thống miễn dịch của con dưới 5 tuổi còn rất non nớt. Trong khi đó, môi trường, vệ sinh phức tạp, thời tiết, khí hậu, nhiệt độ thay đổi thất thường… tạo điều kiện cho rất nhiều mầm bệnh nguy hiểm phát triển. Dịch bệnh tấn công là một trong những nguy cơ đe dọa sức khỏe và tính mạng của con. Ngay cả khi được chữa khỏi, con vẫn có thể bị ảnh hưởng lâu dài hay chịu di chứng nặng nề.
Tiêm chủng vắc xin giúp cơ thể con tạo ra kháng nguyên, kích thích hệ miễn dịch tạo ra kháng thể có nhiệm vụ tấn công, tiêu diệt các loại vi khuẩn, vi rút có hại để bảo vệ sức khỏe cho con. Nếu con đã được tiêm vắc xin và có kháng thể, mẹ sẽ yên tâm khi vào những đợt dịch bệnh tấn công, con yêu của mẹ đã được bảo vệ an toàn.

Lịch Tiêm Chủng Cho Trẻ

📷
lịch tiêm chủng cho trẻ
Giai đoạn từ sơ sinh đến dưới 1 tuổi, con cần tiêm chủng nhiều vắc xin phòng bệnh thuộc chương trình tiêm chủng mở rộng (viết tắt: TCMR) và tiêm dịch vụ (chi tiết về các mũi Tiêm phòng dịch vụ). Các mẹ lưu lại hình ảnh tổng hợp chương trình tiêm chủng dịch vụ và tiêm chủng mở rộng gồm những mũi nào để mẹ theo dõi chủng ngừa đúng lịch, đúng phác đồ cho con nhé.

Vắc xin cho trẻ sơ sinh

Hai mũi này thuộc chương trình TCMR.

Vắc xin cho trẻ 2 – 3 – 4 tháng tuổi

Trong đó, 3 mũi đầu tiên của vắc xin 5 trong 1 thuộc chương trình tiêm chủng mở rộng, vắc xin Rota và phế cầu là mũi tiêm chủng dịch vụ. Để biết cụ thể về các loại vắc xin, lịch tiêm chủng cho trẻ, các mẹ click vào tên vắc xin tương ứng nhé (phần chữ xanh).

Vắc xin cho trẻ 6 tháng tuổi

  • Tiêm phòng vắc xin cúm – mũi 1. Tiêm nhắc hàng năm để bảo vệ con trước bệnh cúm.
  • Tiêm phòng vắc xin phế cầu: mũi 3.
  • Tiêm phòng não mô cầu BC: mũi 1 và mũi 2 sau mũi 1 là 1 tháng.
Cả 3 mũi này đều là mũi tiêm chủng dịch vụ.

Vắc xin cho trẻ 9 tháng tuổi

Tiêm phòng vắc xin Sởi – Quai bị – Rubella – mũi 1.
Vắc xin Sởi – Quai bị – Rubella có trong chương trình TCMR. Một số mẹ chọn tiêm chủng dịch vụ cho con mũi này. Vắc xin tiêm chủng trong 2 chương trình có gì khác nhau, các mẹ xem Tại Đâynhé!

Vắc xin cho trẻ 12 tháng tuổi

  • Tiêm phòng vắc xin 5 trong 1: mũi 4 (mũi dịch vụ).
  • Tiêm phòng vắc xin Sởi – Quai bị – Rubella:
  • Nếu mũi 1 tiêm lúc 9 – 11 tháng, mũi 2 lúc 15-18 tháng, mũi 3 sau 4 năm.
  • Nếu mũi 1 tiêm lúc sau 12 tháng, tiêm mũi 2 sau 4 năm.
  • Tiêm phòng vắc xin viêm não Nhật Bản B – mũi 1. Mũi 2: sau mũi 1 từ 1-2 tuần. Mũi 3: tiêm sau mũi 2 một năm. Sau đó 3 năm tiêm nhắc 1 lần cho đến khi trẻ 15 tuổi.
Vắc xin viêm não Nhật Bản được CTMR tài trợ 3 mũi đầu tiên. Bắt đầu từ mũi thứ 4 mẹ cho con tiêm phòng dịch vụ nhé.
  • Tiêm phòng vắc xin thủy đậu – mũi 1. Mũi 2 lúc 4-5 tuổi
  • Tiêm phòng vắc xin viêm gan A – mũi 1. Mũi 2: tiêm nhắc sau 6 tháng – 1 năm
  • Tiêm phòng vắc xin phế cầu: mũi 4.
Đây là các mũi tiêm dịch vụ các mẹ nhé.
Các mẹ có thể thấy khi trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên cũng có khá nhiều các mũi vắc xin cần chủng ngừa. Mẹ có thể chủ động giãn lịch chích ngừa cho trẻ. Ví dụ tiêm phòng các vắc xin khác nhau vào các ngày khác nhau trong cùng một tháng hay cách nhau một tháng trở lên (mẹ nên tham khảo ý kiến bác sĩ). Hoặc các mẹ cho con tiêm phòng nhiều loại vắc xin cùng lúc.
Thực ra cả hai cách đều được các mẹ nha. Tuy nhiên, từ trước đến nay ở nước ta quen với tiêm chủng mỗi lần một vắc xin nên sẽ hơi e ngại cách 2 một chút. Tuy nhiên, cách 2 khá phổ biến ở các nước tiên tiến trên thế giới và đã được chứng minh là an toàn. Vậy nên, các mẹ nào cảm thấy chưa yên tâm, mẹ hãy chủ động giãn lịch tiêm chủng cho con. Đối với các mẹ muốn tiết kiệm thời gian, tiêm phòng sớm để bảo vệ con sớm thì có thể chọn cách tiêm cùng lúc nhiều vắc xin nhé.

Vắc xin cho trẻ từ tháng 15-18

  • Tiêm phòng vắc xin viêm gan A – mũi 2.
  • Tiêm phòng vắc xin cúm – mũi 2.
Hai mũi tiêm này là dịch vụ.

Vắc xin cho trẻ đủ 24 tháng tuổi

  • Tiêm phòng vắc xin viêm não Nhật Bản B – mũi 3 (chương trình mở rộng).
  • Tiêm phòng vắc xin não mô cầu AC – mũi 1.
  • Tiêm phòng vắc xin Thương hàn và Tả – mũi 1 áp dụng cho những trẻ ở vùng có nguy cơ nhiễm bệnh cao.
Các mũi tiêm này là dịch vụ.

Vắc xin cho trẻ từ 3-10 tuổi

Hầu hết giai đoạn này là tiêm nhắc vắc xin cho trẻ gồm vắc xin phòng các bệnh: viêm não Nhật Bản, Thương hàn, Tả, Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván, Sởi – Quai bị – Rubella.
Với bé gái 9 tuổi trở lên: tiêm phòng vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung – 3 mũi.

Phân Biệt Tiêm Chủng Dịch Vụ Và Tiêm Chủng Mở Rộng

Đọc Thêm: Các Mũi Tiêm Dịch Vụ
Tiêm Chủng Mở Rộng Là gì. Các Mũi Tiêm Mở Rộng.

Có Nên tiêm Vắc Xin Cho Con?

Một số mẹ thấy con mỗi lần đi tiêm vắc xin về thì bị sốt, khó chịu, mệt mỏi, sưng ở vị trí tiêm thì thương con, xót con, sợ con bệnh thêm nên có tâm lý ngại đi tiêm vắc xin cho con nữa. Như vậy, có nên tiêm vắc xin cho con không?
Câu trả lời là nên tiêm vắc xin cho con nha các mẹ ơi. Trừ những trường hợp bác sĩ chỉ định không được tiêm, còn lại mẹ nên cho con đi tiêm chủng đầy đủ. Bởi vì:
  • Tiêm chủng là đưa một lượng vacxin vừa đủ, tức đưa kháng nguyên của vi-rút hoặc vi khuẩn gây bệnh vào cơ thể chưa từng bị nhiễm bệnh, để kích thích hệ miễn dịch của trẻ sản xuất kháng thể. Những biểu hiện sốt, đau, sưng tấy chỗ tiêm… chứng tỏ hệ miễn dịch của con đã được kích hoạt, đang xây dựng lực lượng kháng thể để đánh nhau với vi khuẩn, vi-rút xâm nhập bất hợp pháp. Hai bên giao tranh, nếu ta mạnh địch yếu thì biểu hiện bình thường. Nếu hai bên cân tài cân sức ắt hẳn cuộc chiến bắt buộc phải quyết liệt. Kết thúc, kẻ địch thương vong thì quân ta cũng te tua nhưng chiến lợi phẩm là quân ta có kinh nghiệm chinh chiến, lần sau mà gặp lại ta đánh nhanh tiêu diệt gọn ngay. Như vậy, phản ứng sau tiêm có thể làm mẹ hơi lo lắng nhưng thực chất là lợi nhiều hơn hại mẹ nha.
  • Nếu tiêm phòng, cơ thể con sẽ có phản ứng một chút (như trên) nhưng vẫn còn nhẹ nhàng và lành mạnh hơn rất nhiều so với việc con bị nhiễm bệnh do không tiêm phòng. Một khi đã bệnh, việc điều trị sẽ khó khăn hơn vì con còn quá bé, mất nhiều thời gian. Chưa kể một số bệnh tuy lành tính nhưng lại có khả năng gây ra những biến chứng nguy hiểm nếu không điều trị kịp thời. Sau thời gian điều trị, trẻ vẫn có thể bị ảnh hưởng sức khỏe hay phải chịu những di chứng về sau.
  • Các mũi vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng là hoàn toàn miễn phí. Các mũi dịch vụ thì tùy loại từ vài trăm cho đến khoảng 1 triệu. Tuy nhiên chi phí này vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với chi phí điều trị nếu bé mắc bệnh.

Thông Tin Mẹ Cần Lưu Ý Khi Đưa Con Đi Tiêm Chủng

Trước khi chủng ngừa, con luôn được khám sàng lọc như đo thân nhiệt, chiều cao, cân nặng. Cha mẹ nên chủ động thông báo tình trạng sức khỏe của con như con có đang bệnh gì không, có dị ứng hay gia đình có ai dị ứng gì không, con có đang điều trị kháng sinh… để bác sĩ nắm rõ tình hình và tư vấn phù hợp.
Mẹ luôn mang theo sổ chích ngừa và thẻ bảo hiểm y tế của con nếu con tiêm những mũi tiêm chủng mở rộng ở trạm y tế xã, phường, quận, huyện trong cả nước. Nếu mẹ tiêm ở bệnh viện hay các trung tâm tiêm chủng thì sẽ có phí. Mẹ nên hỏi kỹ, xem bảng giá công bố trên website để chuẩn bị trước khi đi tiêm phòng cho trẻ nhé.
Các mẹ nên cho con ở lại tại trạm y tế/bệnh viện theo dõi ít nhất 30 phút sau khi tiêm và theo dõi thêm 48h sau khi con về nhà.
Nếu con có các dấu hiệu bất thường như: sốt cao, quấy khóc kéo dài, co giật, bỏ bú, khó thở, tím tái… các mẹ ngay lập tức đưa con tới cơ sở y tế gần nhất nhé.
Mẹ tuyệt đối không bôi, đắp bất cứ thứ gì lên vị trí tiêm của bé. Vết tiêm có thể bị sưng đỏ, đau – đây hoàn toàn là phản ứng bình thường và sẽ tự khỏi. Nếu mẹ sốt ruột có thể chườm lạnh chỗ vết tiêm cho con.
Sau khi tiêm phòng, mẹ có thể cho trẻ tắm rửa, ăn uống bình thường và theo dõi, đánh giá tình trạng sức khỏe của bé. Nếu con chỉ sốt nhẹ, quấy khóc hơn bình thường mà không có biểu hiện bất thường như trên thì mẹ cứ yên tâm, vắc xin đang phát huy tác dụng nên mình kiên nhẫn chờ đợi con khỏe mạnh thôi mẹ nha.

Trường Hợp Nào Không Được Tiêm Phòng Cho Trẻ?

Các mẹ thường thắc mắc không biết trong trường hợp nào thì không nên tiêm phòng cho con. Sau đây là những trường hợp không được tiêm phòng cho trẻ:
  • Trẻ có tiền sử sốc hoặc phản ứng, dị ứng nặng sau khi tiêm liều vắc xin trước đó, kể cả vắc xin có chứa thành phần: Sốt cao trên 39 độ, sốt co giật hoặc dấu hiệu viêm não, viêm màng não, tím tái, khó thở.
  • Trẻ có tình trạng suy chức năng các cơ quan như suy hô hấp, suy tuần hoàn, suy tim, suy gan, suy thận…
  • Không tiêm vắc xin khi trẻ đang ốm hay mắc các bệnh lý khác, đang điều trị kháng sinh dài ngày.
  • Không tiêm vắc xin sống với trẻ bị suy giảm miễn dịch như bệnh suy giảm hệ miễn dịch bẩm sinh, suy giảm miễn dịch nặng.
  • Không tiêm vắc xin phòng bệnh lao cho trẻ sinh ra từ mẹ bị nhiễm HIV mà không được điều trị dự phòng lây truyền.
  • Các trường hợp chống chỉ định khác theo chỉ dẫn của nhà sản xuất đối với từng loại vắc xin cụ thể.
Để phát hiện những trường hợp trẻ không được tiêm phòng, các bác sĩ sẽ tiến hành đánh giá tình trạng sức khỏe của bé thông qua đo thân nhiệt, đánh giá tri giác, quan sát nhịp thở, nghe tim để phát hiện các bất thường. Các mẹ nên phối hợp cung cấp thông tin chi tiết để các y bác sĩ có cơ sở chẩn đoán chính xác nhất.

Chăm Sóc Và Theo Dõi Trẻ Sau Tiêm Chủng

Theo Dõi Sau Tiêm Chủng.

Bố mẹ cần theo dõi con tối thiểu 30 phút tại cơ sở tiêm chủng. Nếu phát hiện những bất thường như nôn, thở nhanh, thở ngắt quãng, khò khè, da mẩn đỏ… cần báo ngay cho nhân viên y tế nhé.
  • Sau 24 – 48h, vẫn tiếp tục theo dõi con về thân nhiệt, nhịp thở, sinh hoạt hằng ngày bao gồm ăn, ngủ, chơi đùa…
  • Quan sát vùng tiêm và da toàn thân của trẻ xem có sưng, phát ban hay nổi mẩn đỏ.

Chăm Sóc Sau Tiêm Chủng.

  • Mẹ nên cho con mặc quần áo mỏng, thoáng mát.
  • Duy trì chế độ dinh dưỡng đầy đủ, uống nước nhiều, nếu trẻ còn bú mẹ nên cho trẻ bú nhiều.
  • Nếu trẻ sốt trên 38,5 độ C, có thể dùng thuốc hạ sốt thông thường như paracetamol, ibuprofen với liều phù hợp. Mẹ nhớ nguyên tắc tính liều lượng hạ sốt phù hợp với cân nặng của con: 15mg/kg và thời gian giữa hai lần uống là 6-8 tiếng (bé dưới 1 tuổi) hay 4-6 tiếng (1 tuổi trở lên). Nếu con không chịu uống thuốc hạ sốt, mẹ có thể dùng thuốc nhét hậu môn để hạ sốt nhanh hơn. Mẹ không tự ý dùng Aspirin và các liều thuốc ho, thuốc hạ sốt khác vì những loại thuốc này có thể tăng liều paracetamol.
  • Nếu con sốt mà vẫn ăn, chơi, ngủ được bình thường thì không sao mẹ nha.
Xem thêm: Hướng dẫn chăm sóc trẻ sau tiêm phòng đơn giản mà hiệu quả tại nhà
Trường hợp tại vết tiêm sưng, đỏ, mẹ có thể chườm lạnh để con giảm sưng, giảm đau. Mẹ dùng khăn bọc 1 viên đá nhỏ bên trong hoặc thấm ướt khăn cho vào ngăn đá tủ lạnh vài phút cho lạnh rồi lăn xung quanh vết tiêm của con sẽ giúp giảm sưng tấy.
Các mẹ không nên tiếp xúc trực tiếp vào vết tiêm của con, không thoa hoặc bôi bất cứ thứ gì lên vết tiêm vì như vậy có thể làm nhiễm trùng vết tiêm.
Cuộc chiến giữa đội quân kháng thể và lực lượng vi khuẩn, vi rút xâm nhập bất hợp pháp có thể rất cam go nên bé yêu có thể khó tính hơn ngày thường, đau, khóc, quấy và chỉ đòi mẹ làm cho mẹ cũng mệt gấp đôi, gấp ba. Nhưng chỉ 1-2 ngày là con trở lại bình thường. Mẹ chịu khó kiên nhẫnnhẹ nhàng với em một chút mẹ nhé. Biết là con quấy, nhưng đang mệt trong người mà còn bị mắng nữa thì tội nghiệp con lắm đúng không nào?

KẾT LUẬN

Các mẹ theo dõi bảng tổng hợp đảm bảo tiêm ngừa đúng lịch cho con. Các mũi chủng ngừa quan trọng được giới thiệu trong từng bài riêng sẽ giúp mẹ cập nhật thông tin và hướng dẫn chi tiết nhé!
Nếu mẹ đang chuẩn bị đến ngày sinh, hai mũi tiêm quan trọng đầu đời của con mẹ cần biết đó là:
Mũi tiêm quan trọng đầu đời của con mẹ cần biết: Vắc xin viêm gan B
Tiêm phòng Lao cho trẻ sơ sinh: 1 mũi bảo vệ con trọn đời
submitted by phamthuanhd to u/phamthuanhd [link] [comments]

Lý luận về thi hành phạt tù trung thân

Lý luận về thi hành phạt tù trung thân
https://preview.redd.it/cgmlytrpwoi21.jpg?width=660&format=pjpg&auto=webp&s=6413d9c2d679b2c08b81b2aa9ae5f2c095a612d2

1. Nhận thức chung về thi hành hình phạt tù chung thân

1.1 Khái niệm và bản chất của thi hành hình phạt tù chung thân

Hoạt động thi hành án là một hình thức thực hiện pháp luật. Để làm sáng tỏ khái niệm thi hành hình phạt tù chung thân, trước hết cần làm rõ khái niệm thi hành án nói chung và thi hành án hình sự nói riêng. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về thi hành án.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, thi hành là “Thực hiện điều đã chính thức quyết định” [58 tr.1559]. Như vậy, thi hành án có thể được hiểu là thực hiện bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế; còn thi hành án hình sự là thực hiện các bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trên thực tế.
Trong khoa học pháp lý cũng có một số quan điểm khác nhau về thi hành án hình sự: Tại chuyên đề Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động thi hành án hiện nay, của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, GS.LS Phan Hữu Thư có nêu:”Thi hành án là một giai đoạn của tố tụng, bởi nếu tách ra thì sẽ không thực hiện được mục tiêu chung của toàn bộ quá trình tố tụng. Khi chân lý được làm sáng tỏ thể hiện trong bản án, Quyết định của Tòa án thì mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ đúng hay sai, phải hay trái trên văn bản, giấy tờ. Muốn nó được thực hiện trên thực tế, cần phải chờ ở hiệu quả công tác thi hành án. Vì vậy, thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử” [ 44, tr12].
Theo TS. Trần Thành Hưng, thi hành án hình sự là một hoạt động tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án do các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, buộc người bị kết tội phải chấp hành hình phạt theo bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật” [ 30, tr 9].
PGS.TS Võ Khánh Vinh, PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng cho rằng, thi hành án là hoạt động tính hành chính – tư pháp: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự đều dừng lại ở việc phán quyết của Tòa án, còn thi hành án lại được triển khai bắt đầu từ một phán quyết của Tòa án có hiệu lực thi hành. Hơn nữa các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thi hành án hình sự tuân theo các nguyên tắc mang đậm tính hành chính hơn là tố tụng. Nhưng mặt khác, không thể không thấy mối quan hệ biện chứng giữa quá trình tố tụng hình sự và thi hành án hình sự: tố tụng là tiền đề, khởi đầu của thi hành án; ngược lại, thi hành án là thực hiện kết quả tố tụng trong thực tế. Không có tố tụng thì không có thi hành án, nhưng không có thi hành án thì tố tụng trở nên vô nghĩa” [59 , tr26 – 27] Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác nhau về thi hành án nhưng nhìn chung về bản chất pháp lý đều thống nhất thừa nhận: thi hành án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự và có thể coi đó là giai đoạn cuối cùng của một vụ án hình sự. Công tác điều tra, truy tố và xét xử là rất quan trọng. Quyết định hình phạt của Toà án chính là sự đánh giá, sự lên án của Nhà nước đối với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.Nếu chỉ dừng ở mức đánh giá, lên án mà không thực hiện bằng các biện pháp mang tính cưỡng chế đặc trưng của quyền lực nhà nước thì tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa và tính chịu hình phạt hạn chế, thậm chí là không có tác dụng. Chính vì vậy, pháp luật hình sự đã có những quy định cụ thể về thi hành án hình sự, các ngành tư pháp trung ương nói chung và Toà án nhân dân tối cao nói riêng cũng đã ban hành một số Thông tư liên tịch, Nghị quyết để hướng dẫn một số quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự về thi hành án hình sự nhằm đảm bảo việc thi hành nghiêm túc các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay.
Thi hành án hình sự là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước nhằm đưa các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án ra thi hành trên thực tế. Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng trong các hoạt động tố tụng của các cơ quan thực thi pháp luật, trong đó buộc người bị xử phạt tù phải chấp hành hình phạt mà Toà án đã quyết định. Một bản án, quyết định của Toà án có được thi hành nghiêm chỉnh hay không là tuỳ thuộc vào giai đoạn này.
Theo khoản 3 Điều 2 Luật Thi hành án hình sự năm 2010, thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý, giam giữ, giáo dục, cải tạo trong trại giam, trại tạm giam trong thời gian nhất định để họ trở thành người có ích cho xã hội.
Trên cơ sở đó có thể đưa ra khái niệm thi hành hình phạt tù chung thân như sau: Thi hành hình phạt tù chung thân là việc cơ quan, người có thẩm quyền đưa bản án phạt tù chung thân đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế, tức là buộc ngƣời bị kết án phạt tù chung thân phải chấp hành hình phạt tại trại giam không có thời hạn.

>>>Xem thêm bài viết liên quan : Lý luận chung về cơ chế bảo vệ hiến pháp bằng pháp luật

1.2. Mục đích, ý nghĩa của thi hành hình phạt tù chung thân

Hình phạt tù chung thân là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước, buộc người bị kết án chấp hành hình phạt tù vô thời hạn. Trong hoạt động thi hành án hình sự, hoạt động thi hành án phạt tù luôn thể hiện tính cưỡng chế nghiêm khắc, trong đó hoạt động thi hành hình phạt tù chung thân được coi là có tính nghiêm khắc nhất. Người bị kết án tù chung thân bị tước quyền tự do không có thời hạn, bị cách ly khỏi xã hội và chịu sự quản lý, giáo dục trong các trại giam, trại tạm giam, chịu sự điều chỉnh của những quy định pháp luật chặt chẽ [38, tr30]. Như vậy, có thể thấy mục đích của thi hành hình phạt tù chung thân là nhằm giáo dục, cải tạo người bị kết án tù chung thân nhận ra được lỗi lầm, trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội; răn đe người khác phạm tội. Thi hành hình phạt tù chung thân giống như thi hành bất kỳ hình phạt nào khác đều có ý nghĩa là làm cho bản án có hiệu lực của Tòa án được thi hành trên thực tế. Không chỉ vậy, việc thi hành hình phạt tù chung thân còn có ý nghĩa phòng ngừa riêng đối với người phạm tội (cách ly người phạm tội khỏi xã hội không thời hạn để người đó không còn thực hiện được hành vi nào nguy hiểm cho xã hội nữa), giáo dục người khác có ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm nói chung, động viên, khuyến khích sự tham gia của xã hội và công dân vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm [34, tr 50].

1.3. Mối quan hệ giữa phạt tù chung thân và phạt tù có thời hạn và thi hành phạt tử hình

Như đã nêu ở trên, hình phạt tù chung thân là hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ quyền tự do cư trú, đi lại của người bị kết án vô thời hạn, buộc họ phải sống và làm việc trong trại giam do Nhà nước quy định. Hình phạt tù có thời hạn là hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ quyền tự do cư trú, đi lại của người bị kết án trong một khoảng thời gian nhất định , buộc họ phải sống và làm việc trong trại giam do Nhà nước quy định.
Về bản chất, hình phạt tù chung thân và hình phạt tù có thời hạn là hai dạng của hình phạt tù, vì vậy chúng đều có những tính chất của hình phạt tù, cơ bản chỉ khác nhau ở khoảng thời gian áp dụng hình phạt đối với người bị kết án. Hình phạt tù chung thân là hình phạt được áp dụng vô thời hạn (suốt đời) còn hình phạt tù có thời hạn thì chỉ được áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định.
Hình phạt tù chung thân và hình phạt tù có thời hạn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong quá trình thi hành hình phạt tù chung thân, nếu phạm nhân cải tạo tốt và thỏa mãn các điều kiện được đặc xá thì người bị kết án tù chung thân có thể được xem xét miễn giảm án xuống thành tù có thời hạn. Đây được coi là sự chuyển hóa hình phạt trong quá trình cải tạo, thi hành án.
Hình phạt tử hình được coi là hình phạt nghiêm khắc nhất, tước bỏ quyền sống của một con người. Mối quan hệ giữa hình phạt tử hình và hình phạt tù chung thân được thể hiện ở chỗ đây là hai loại hình phạt nghiêm khắc kế tiếp nhau và có thể thay thế nhau tùy từng trường hợp cụ thể, những trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình được quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 1999 có thể được xem xét chuyển thành hình phạt tù chung thân.

1.4. Cơ quan thi hành hình phạt tù chung thân

Khoản 2 Điều 10 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định cơ quan thi hành án hình sự, bao gồm: Trại giam thuộc Bộ Công an, trại giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu (sau đây gọi là trại giam); Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh); Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện); Cơ quan thi hành án hình sự quân khu và tương đương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu).
Như vậy, Cơ quan thi hành án phạt tù nói chung và cơ quan thi hành hình phạt tù chung thân nói riêng (không thuộc quân đội nhân dân) là cơ quan chuyên trách được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành bản án phạt tù chung thân của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đó là: Trại giam thuộc Bộ Công an, Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh [58, tr127].
Thứ nhất, về trại giam. Theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật Thi hành án hình sự thì trại giam là cơ quan thi hành án phạt tù có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc tiếp nhận, tổ chức quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân và thực hiện các thủ tục pháp lý trong quá trình phạm nhân chấp hành án tại trại giam theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, về cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. Điều 13 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. Theo đó có nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án phạt tù chung thân như: giúp Giám đốc Công an cấp tỉnh quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án tù chung thân trên địa bàn cấp tỉnh; Tiếp nhận quyết định thi hành án tù chung thân của Tòa án có thẩm quyền; hoàn tất thủ tục, hồ sơ và danh sách người chấp hành án phạt tù chung thân để báo cáo, đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền quyết định; Đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù chung thân, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù chung thân; Ra quyết định truy nã và phối hợp tổ chức lực lượng truy bắt phạm nhân bỏ trốn khỏi trại tạm giam…
Đối với người bị kết án phạt tù chấp hành án tù chung thân tại phân trại quản lý phạm nhân của Trại tạm giam Công an tỉnh sẽ do Cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh quản lý. Ngày 24/12/2010, Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân thuộc Bộ Công an đã ban hành Quyết định số 10968/QĐ-X11 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp cấp tỉnh. Xuất phát từ quy định pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Công an cấp tỉnh thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh được gắn với phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp. Đến nay, trên toàn quốc đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp cấp tỉnh để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, về cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện. Điều 13 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện. Theo đó cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan công an cấp huyện có nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án phạt tù chung thân như giúp Trưởng Công an cấp huyện quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án tù chung thân trên địa bàn cấp huyện; Áp giải thi hành án đối với người bị kết án phạt tù chung thân đang được tại ngoại, được hoãn, tạm đình chỉ; Trực tiếp quản lý số phạm nhân phục vụ tại nhà tạm giữ; Tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án phạt tù chung thân đang ở nhà tạm giữ và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh; Lập hồ sơ và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để đề nghị cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an ra quyết định đưa người bị kết án phạt tù chung thân đang ở nhà tạm giữ, được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án đi chấp hành án; đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định truy nã đối với người trốn thi hành án phạt tù chung thân…
Xuất phát từ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy Công an cấp huyện thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện được gắn với Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp cấp huyện. Đây là quy định mới nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế trong việc tổ chức, theo dõi, quản lý thi hành các án phạt ngoài tù, tử hình, trục xuất thời gian qua, góp phần thống nhất quản lý nhà nước về công tác thi hành án hình sự trong phạm vi cả nước [23, tr. 38].
Nhiệm vụ cơ bản nhất của cơ quan thi hành hình phạt tù chung thân là đảm bảo việc thi hành các bản án phạt tù chung thân của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong thực tế theo đúng quy định của pháp luật. Thi hành đúng có nghĩa là thực hiện đúng nội dung của bản án hoặc quyết định của Tòa án theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định, bằng các phương pháp và theo hình thức luật cho phép. Thi hành đúng còn có nghĩa là phải kết hợp giữa trừng trị, cải tạo và giáo dục. Phải thực hiện tách người chấp hành hình phạt tù chung thân suốt đời ra khỏi xã hội trừ những trường hợp được xét giảm án nhằm cải tạo giáo dục họ, ngăn ngừa họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Thông qua việc thi hành án giáo dục ý thức pháp luật đối với toàn xã hội nói chung, ngăn ngừa tội phạm nói riêng, động viên quần chúng tham gia vào công tác thi hành án hình sự nói chung, công tác thi hành hình phạt tù chung thân nói riêng. Các nhiệm vụ trên tuy có tính độc lập tương đối nhưng có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ nhau trong để hoạt động thi hành án hình sự đạt hiệu quả cao.

1.5. Điều kiện thi hành hình phạt tù chung thân

Điều kiện thi hành hình phạt tù nói chung được hiểu là điều kiện pháp lý cần và đủ để thực hiện hình phạt tù chung thân trên thực tế. Các điều kiện này được quy định trong Hiến pháp , Bộ luật Hình sự năm 1999, Luật thi hành án hình sự năm 2010, Quy chế trại giam năm 2008, Các cơ quan, tổ chức thi hành hình phạt tù chung thân phải bắt buộc dựa trên và tuân theo các điều kiện pháp lý đó để có thể đưa người bị kết án thi hành hình phạt tù chung thân. Theo cách hiểu này, việc thi hành hình phạt tù chung thân chỉ phát sinh từ khi một người bị coi là có tội, tức là từ khi người đó bị kết án bằng bản án có hiệu lực của Tòa án (bản án kết tội và có áp dụng hình phạt tù chung thân).
Để đảm bảo tính có căn cứ và hợp pháp của thi hành án tù chung thân, các điều kiện về thi hành hình phạt tù nói chung được quy định cụ thể, rõ ràng trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Về các điều kiện thi hành hình phạt tù chung thân:
  1. Điều kiện thứ nhất: Bản án có hình phạt tù chung thân của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khoản 1 Điều 255 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
Những bản án và quyết định được thi hành là những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật bao gồm:
  1. a) Những bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm;
  2. b) Những bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;
  3. c) Những quyết định của Tòa án cấp Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. [13]
Bản án phạt tù chung thân được thi hành là những bản án đã có hiệu lực pháp luật. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, một bản án sơ thẩm của Tòa án chỉ có hiệu lực khi nội dung của bán án phản ánh sự thật khách quan có căn cứ và không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do luật tố tụng hình sự quy định. Như vậy, hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị thì bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo kháng nghị sẽ phát sinh hiệu lực pháp luật,cũng chính là thời điểm phát sinh điều kiện thi hành hình phạt tù chung thân. Trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị kháng cáo kháng nghị, thì theo quy định tại Điều 241 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét để kiểm tra đối với phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo kháng nghị. Do vậy, bản án phúc thẩm của Tòa án cũng có thể được coi là điều kiện thi hành hình phạt tù chung thân trong trường hợp bản án này xem xét, giải quyết những vấn đề liên quan đến hình phạt tù chung thân. Trong trường hợp, nếu có kháng cáo, kháng nghị những vấn đề khác không liên quan đến hình phạt tù chung thân, thì bản án phúc thẩm của Tòa án chỉ được coi là điều kiện thi hành hình phạt tù chung thân nếu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án phạt theo hướng giảm nhẹ cho người phạm tội (cụ thể là xem xét giảm từ hình phạt tử hình xuống hình phạt tù chung thân).
Tòa án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm có trách nhiệm kiểm tra mặt pháp lý những bản án, quyết định hình phạt tù chung thân đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị theo trình tự, thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Trong trường hợp này, Quyết định giám đốc thẩm hoặc quyết định tái thẩm không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án phạt tù chung thân của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được coi là điều kiện thi hành hình phạt tù chung thân
Về nguyên tắc, thời điểm bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật chính là thời điểm thi hành hình phạt tù chung thân. Tuy nhiên, trên thực tế, có những trường hợp người bị kết án trốn tránh mà không bị truy nã nên bản án, quyết định của Tòa án qua một thời gian nhất định mà chưa được thi hành. Như vậy, bên cạnh thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật, bản án đã có hiệu lực pháp luật đó chỉ trở thành điều kiện thi hành hình phạt tù chung thân khi nó còn hiệu lực thi hành. Để đảm bảo tính ổn định của các quan hệ pháp luật về thi hành hình phạt tù chung thân và nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kết án, Khoản 4 Điều 55 Bộ luật Hình sự có quy định về thời hiệu thi hành bản án đối với trường hợp áp dụng hình phạt tù chung thân như sau:
“d) 20 năm đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình” [11].
Tóm lại, còn thời hiệu thi hành cũng là một trong những yếu tố của bản án có hiệu lực thi hành, tức là bản án được đưa ra thi hành khi bản án đó vẫn còn hiệu lực pháp luật.
  1. Điều kiện thứ hai: Tòa án ra quyết định thi hành bản án phạt tù chung thân
Bản án đã có hiệu lực pháp luật và đang còn hiệu lực thi hành được đưa ra thi hành khi có quyết định thi hành án của của Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc của Chánh án Tòa án khác cùng cấp được ủy thác ra quyết định thi hành án. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
“ Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành bản án hoặc ủy thác cho Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án” [13]. Như vậy, bản án phạt tù chung thân mặc dù đã phát sinh hiệu lực nhưng chỉ được thi hành khi có quyết định thi hành án của người có thẩm quyền. Việc ra quyết định thi hành án hình sự thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Tòa án, cụ thể là Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành bản án hoặc ủy thác cho Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án. Quyết định thi hành án là văn bản áp dụng pháp luật, có ý nghĩa bắt buộc trong việc đưa bản án phạt tù chung thân ra thi hành nhằm đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của bản án.
Như vậy, có thể nói, điều kiện để thi hành hình phạt tù chung thân là bản án và quyết định của Tòa án áp dụng hình phạt tù chung thân đã có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành hình phạt tù chung thân của Chánh án Tòa án khác cùng cấp được Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ủy quyền ra quyết định thi hành án. Đây là hai điều kiện tiên quyết, là cơ sở có tính nguyên tắc được pháp luật tố tụng hình sự quy định, buộc các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành hình phạt tù chung thân phải tuân theo trong việc đưa người bị kết án tù chung thân vào thi hành hình phạt tại trại giam

2. Sơ lược lịch sử các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù chung thân

2.1 Các quy định về thi hành hình phạt tù chung thân trước năm 1945

Ở thời kỳ phong kiến, pháp luật hình sự nước ta quy định hệ thống hình phạt gồm 5 hình phạt: xuy hình, tượng hình, đồ hình, lưu hình và tử hình. Lưu hình là hình phạt đi đày xa, loại hình phạt này đứng hàng thứ tư trong thang hình phạt cổ và được xếp ngay sau hình phạt tử hình, tức là mức độ nghiêm khắc chỉ đứng sau hình phạt tử hình trong thang hình phạt cổ [43, tr121].
Thời Lê sơ có ban hành một bộ luật khá độc đáo là Bộ luật “Quốc Triều khám tụng điều lệ” quy định về thủ tục kiện cáo,xét xử, thi hành án…đây được coi là một bước ngoặt lớn trong pháp luật về thi hành án hình sự nói chung và thi hành hình phạt tù chung thân nói riêng nhưng các vấn đề liên quan đến thi hành án lại không được đề cập nhiều và khả năng áp dụng thiếu thống nhất. Ví dụ như quy định nhiều hình thức thi hành án cho cùng một hình phạt. Hình phạt tù chung thân hầu như được áp dụng và cho thi hành ngay, có trường hợp tuyên án bằng miệng là bản án được thi hành ngay. Ở thời kỳ này, hình phạt tù chung thân cũng được áp dụng nhằm mục đích giáo dục, răn đe người khác không phạm tội tương tự. Ngoài Bộ luật “Quốc triều khám tụng điều lệ”, vào thời kỳ cầm quyền của Lê Thánh Tông còn ra đời bộ điển chế vĩ đại nhất của lịch sử pháp luật phong kiến Việt Nam đó là Bộ luật Hồng Đức. Trong Bộ luật Hồng Đức đã có khá nhiều quy định về chế độ giam giữ, chế độ đối với tù bị thương, bị bệnh, về kiểm soát ngục thất… Đặc biệt Bộ luật đã có những quy định về các hành vi vi phạm về quy định thi hành án của Hình quan, Ngục quan là những người có trách nhiệm trong thi hành án, đều bị xác định là tội phạm và bị trừng trị rất nghiêm khắc [42, tr122].
Ở thời kỳ Pháp thuộc, với sự du nhập những yếu tố mới trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước thông qua cách quản lý xã hội của chính quyền thực dân Pháp, hoạt động thi hành án có những thay đổi đáng kể so với thời kỳ phong kiến trước đây, theo hướng chú trọng hơn cả ở trong pháp luật về thi hành án nói chung và cả trong thực tiễn thi hành án nói riêng. Thay đổi quan trọng nhất là đã có sự phân biệt hoạt động thi hành án hình sự và thi hành án dân sự. Từ đây, pháp luật về thi hành án hình sự bắt đầu được quy định ở những chế định riêng biệt, rõ ràng và được áp dụng thống nhất hơn. Tuy nhiên, hoạt động thi hành án vẫn mang những hạn chế cố hữu của một chế độ xã hội được xây dựng trên bất công và đàn áp, nhiều nhà tù với chế độ giam giữ hết sức hà khắc vẫn được thực dân Pháp xây dựng để đàn áp các phong trào yêu nước, các chiến sỹ yêu nước…

2.2 Các quy định về thi hành hình phạt tù chung thân từ năm 1945 đến nay.

Sau khi tuyên bố độc lập năm 1945, đất nước ta bắt đầu bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước, Nhà nước mới ra đời đứng trước vô vàn những khó khăn. Song song với phát triển kinh tế, Nhà nước mới ra đời cũng chú trọng đến ban hành những văn bản pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội.
Thời kỳ này, hình phạt tù chung thân đã được quy định trong Thông tư số 498-P4 ngày 30/10/1946 của Bộ Tư pháp, theo đó:”Chung thân cũng là một hình phạt có tính chất đặc biệt. Cũng như hình phạt tử hình, nó có thể được áp dụng đối với một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Trước yêu cầu cấp thiết của việc tổ chức giam giữ và tiến hành giáo dục, cải tạo những người bị kết án, ngày 07/11/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 150/SL về tổ chức trại giam, bỏ hình thức “tù khổ sai”, “tù cầm cố” vốn được áp dụng phổ biến trong thời ký phong kiến thực dân. Ngày 18/8/1953 ra đời Sắc lệnh số 175/SL quy định về chế độ quản chế; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 49/NQ-UBTVQH ngày 20/6/1961 quyết định phải tập trung cải tạo những phần tử nguy hiểm cho xã hội và còn một số văn bản khác liên quan đến hoạt động giam giữ, cải tạo, giáo dục phạm nhân, trong đó có việc giam giữ những phạm nhân chấp hành hình phạt tù chung thân [41, tr40].
Nhìn chung, trong giai đoạn này các quy định về thi hành hình phạt chủ yếu điều chỉnh hoạt động thi hành án phạt tù (gồm tù có thời hạn và tù chung thân). Tuy nhiên, chưa có sự phân biệt giam giữ người bị kết án tù với người bị giam cứu, người bị cơ quan thi hành chính bắt đề phòng và phân biệt giữa người bị kết án tù chung thân với tù có thời hạn.
Năm 1988, Bộ luật Tố tụng hình sự ra đời, lần đầu tiên khẳng định nguyên tắc “Chế độ tạm giữ, tạm giam khác với chế độ đối với người đang chấp hành hình phạt tù”. Đây là một bước tiến lớn về mặt nhận thức, khắc phục được những thiếu sót đánh đồng người bị tạm giữ, tạm giam với người bị kết án phạt tù của những văn bản quy định về thi hành hình phạt tù trước đây. Tuy nhiên, sau khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, chúng ta còn thiếu những văn bản hướng dẫn cụ thể việc thi hành hình phạt tù của các cơ quan có thẩm quyền. Để khắc phục tình trạng này, khắc phục những lệch lạc, sai sót trong quá trình giam giữ, cải tạo, giáo dục phạm nhân, ngày 27/4/1989, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã ban hành Chỉ thị 123 về tăng cường quản lý, cải tạo phạm nhân trong tình hình mới; ngày 15/8/1989 Liên ngành Bộ Nội vụ – Bộ Tư pháp – Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên ngành số 04/TT-LN làm cơ sở cho việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.
Trước khi Nhà nước ta ban hành Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993, các quy định về thi hành án phạt tù nói chung và thi hành hình phạt tù chung thân nói riêng còn giản đơn, thậm chí còn chưa đầy đủ và nhất
quán về nguyên tắc, thiếu cụ thể về quyền và nghĩa vụ dẫn đến tồn tại nhiều mâu thuẫn, do vậy gây khó khăn cho việc vận dụng và làm giảm hiệu lực của pháp luật. Mặt khác, sự non yếu về kỹ thuật lập pháp cũng đã tạo ra nhiều sơ hở ngay trong các quy định của pháp luật. Trong quá trình thực thi pháp luật nhiều cán bộ thi hành án lạm dụng biện pháp cứng rắn, đôi khi là hà khắc khiến cho người chịu hình phạt tù chung thân không nhận thức được mục đích giáo dục, cải tạo của việc thi hành án tù chung thân đối với họ nên không có tâm lý ổn định, thiếu yên tâm cải tạo, làm giảm hiệu quả thi hành án tù chung thân. Ngoài ra cũng phải kể đến những bất cập, yếu kém trong công tác quản lý, cải tạo phạm nhân, nhất là sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức với gia đình phạm nhân cũng như sự phối hợp giữa các trại giam chưa đạt hiệu quả cao.
Sau khi ban hành Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 1993, hoạt động thi hành án phạt tù nói chung và thi hành hình phạt tù chung thân có nhiều chuyển biến rõ rệt. Tuy nhiên, quá trình áp dụng đã cho thấy những bất cập giữa pháp luật thi hành án phạt tù với yêu cầu nâng cao chất lượng thi hành án phạt tù cũng như giữa pháp luật thi hành án phạt tù với các văn bản pháp luật khác có liên quan, chẳng hạn như: những quy định về phân loại trại giam trong Pháp lệnh thi hành án phạt tù không còn phù hợp với BLHS năm 1999; không có lực lượng chuyên trách thực thi việc bắt người thi hành án phạt tù; vẫn còn nhiều người bị kết án phạt tù chưa được đưa vào trại giam để chấp hành hình phạt…[48, tr524].
Năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993, đã quy định khá đầy đủ các trình tự, thủ tục của quá trình hoạt động thi hành hình phạt tù.
Tuy nhiên, do tình hình thực tế yêu cầu phải có một đạo luật quy định cụ thể và đầy đủ về hoạt động thi hành án hình sự, Luật Thi hành án hình sự 2010 ra đời là một văn bản quan trọng chứa đựng đầy đủ và có hệ thống các quy phạm pháp luật về thi hành án hình sự, trong đó có thi hành án phạt tù. Đạo luật này cùng với một số các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản quy phạm pháp luật khác của Nhà nước về thi hành án hình sự đã tạo thành hệ thống các quy phạm pháp luật thi hành án hình sự thống nhất, đồng bộ và có ý nghĩa áp dụng trong thực tiễn.
Ngay sau khi có Luật Thi hành án hình sự năm 2010, hàng loạt các văn bản dưới luật khác cũng được ban hành, trong đó phần lớn là những văn bản liên quan đến hướng dẫn thực hiện các quy định của đạo luật nói trên về thi hành án phạt tù. Điều này thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước trong những năm gần đây đối với công tác thi hành án nói trên. Mặc dù vậy, ở phương diện lập pháp, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì hệ thống pháp luật Việt Nam về thi hành án hình sự vẫn không thể tránh khỏi một số bất cập do hoàn cảnh đất nước đang đổi mới mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực và do nhu cầu hội nhập quốc tế của đất nước.
Trên cơ sở xây dựng, hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật thi hành án hình sự, quy định về thi hành án hình sự nói chung và công tác thi hành hình phạt tù chung thân nói riêng ngày càng được hoàn thiện. Đặc biệt là từ khi Nhà nước ban hành các văn bản về công tác thi hành án hình sự như: Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 1993, Quy chế trại giam năm 1993, Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 2007 và Luật Thi hành án hình sự năm 2010 đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong công tác thi hành án hình sự ở nước ta, khắc phục những bất cập trước đây, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thi hành án nói chung cũng như thi hành hình phạt tù chung thân nói riêng.

3 Khái quát pháp luật thi hành hình phạt tù chung thân ở một số nƣớc trên thế giới

3.1 Pháp luật về thi hành hình phạt tù chung thân của Liên bang Nga

Ở Liên Bang Nga pháp luật về thi hành hình phạt tù chung thân nói riêng hay thi hành hình phạt tù nói chung được thể hiện trong Quyết định
ngày 24/01/1918 về “các đội lao động trong nhà tù” của Hội đồng Dân ủy. Trong đó có quy định: các nhà tù tổ chức thực hiện lao động có ích cho xã hội và lao động được coi là một trong những phương tiện quan trọng để cải tạo phạm nhân. Ngoài ra, việc thi hành hình phạt tù chung thân còn được thể hiện ở Hướng dẫn tạm thời về “Tước tự do là một hình phạt và trình tự thực hiện nó” được ban hành ngày 23/7/1918 theo đó trại giam gồm 5 loại:
  1. i) Các trại giam chung (nhà tù); ii) Các trại trừng phạt – giáo dục (chủ yếu dành cho thanh niên); iii) Các trại thử thách để dành cho những người có căn cứ để tha tù trước thời hạn; iiii) Các cơ sở chữa bệnh bắt buộc dành
cho những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần; iiiii) Các bệnh viện nhà tù [41, tr46].
Bộ luật Lao động – cải tạo của Liên bang Nga được ban hành ngày 16/10/1924 chia trại giam thành 3 nhóm:
Nhóm A: Các trại giam để áp dụng các biện pháp bảo vệ xã hội có tính chất cải tạo bao gồm: Các nhà giam; các trại lao động – cải tạo; các đội lao động nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp; các phòng giam cách ly đặc biệt; các trại lao động – cải tạo quá độ.
Nhóm B: Các trại giam để áp dụng các biện pháp bảo vệ xã hội có tính chất giáo dục – y tế gồm: Các trại lao động dành cho những người chưa thành niên phạm tội; Các trại lao động dành cho những người phạm tội là thanh niên thành phần công nhân, nông dân.
Nhóm C: Các trại giam để áp dụng các biện pháp bảo vệ xã hội có tính chất y tế bao gồm các trại dành cho người mắc bệnh tâm thần, các phạm nhân mắc bệnh lao hoặc các bệnh khác…
Ngày 01/8/1933, Bộ luật Lao động – cải tạo của Liên bang Nga thay thế Bộ luật Lao động – cải tạo năm 1924 được ban hành, trong đó mục đích chính sách lao động – cải tạo được khẳng định là đặt người bị kết án trong những điều kiện ngăn ngừa họ gây thiệt hại cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; cải tạo và làm cho họ thích nghi với đời sống lao động. Phương tiện để cải tạo người bị kết án là lao động và công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.
Ngày 10/12/1970, Bộ luật lao động – cải tạo được sửa đổi tiếp tục điều chỉnh việc thi hành các hình phạt tước tự do và các hình phạt khác.
Sau khi Liên Xô sụp đổ, ngày 18/12/1996, Bộ luật Thi hành án hình sự của Liên bang Nga được ban hành và được sửa đổi ngày 12/01/1998. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2001 của Liên bang Nga được Đuma Quốc gia thông qua ngày 22/11/2001; sau đó được sửa đổi, bổ sung nhiều lần và lần sửa gần đây nhất là ngày 18/10/2011. Tại Chương XIV phần thứ ba quy định về thi hành án, gồm 3 mục quy định việc đưa bản án ra thi hành; thủ tục giải quyết các vấn đề liên quan đến thi hành án và thủ tục xét xử phúc thẩm. Như vậy, việc thi hành án hình sự nói chung và thi hành án phạt tù nói riêng cũng được điều chỉnh bởi Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga và Bộ luật Thi hành án hình sự. Trách nhiệm quản lý hệ thống nhà tù thuộc về cơ quan thi hành án Liên bang (FSES) được thực hiện căn cứ vào Nghị định số 314 ngày 09/03/2004 của Tổng thống. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm soạn thảo các văn bản pháp lý liên quan tới các vấn đề về nhà tù, song FSES là cơ quan phụ trách riêng về việc thực hiện. Cơ quan này chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Văn phòng Tổng thống. Cơ quan thanh tra thi hành án hình sự, trực thuộc FSES, chịu trách nhiệm về những đối tượng bị kết án với những chế tài thay thế và được phóng thích [41, tr47].
FSES chịu trách nhiệm tiến hành giáo dục và điều trị tâm lý chuẩn đoán trong nhà tù. Về việc giúp cho phạm nhân xây dựng lại cuộc sống, cơ quan thanh tra phối hợp chặt chẽ với các trung tâm môi giới việc làm và các địa phương để tìm ra giải pháp cho các vấn đề xã hội mà những đối tượng bị kết án với những chế tài thay thế hay phóng thích phải đối mặt.

3.2 Pháp luật về thi hành hình phạt tù chung thân ở Vương quốc Anh

Vào thế kỷ XIX, Anh đã bắt đầu thực thi việc thi hành hình phạt tước quyền tự do: người bị tước quyền tự do đầu tiên bị biệt giam một thời gian, sau đó được chuyển sang giam chung với những người khác và kết thúc ở giai đoạn này có thể được tha tù trước thời hạn. Thời gian của từng giai đoạn phụ thuộc vào thái độ của người bị kết án. Như vậy, ngay ở thế kỷ này, nước Anh đã áp dụng hình phạt tù nói chung và hình phạt tù chung thân nói riêng một các tương đối tiến bộ, người bị kết án tù chung thân có thể được tha trước thời hạn (hình thức tù chung thân có thể được ân xá).
Tại Anh, pháp luật thi hành hình án hình sự được điều chỉnh bởi án lệ và các đạo luật. Các đạo luật điều chỉnh việc thi hành án hình sự như sau: Đạo luật về nhà tù năm 1952, Đạo luật hình sự năm 1967, Đạo luật hình sự năm 1977, Đạo luật về hành vi phạm tội chưa đạt năm 1981, Đạo luật về thẩm quyền của các Tòa án hình sự năm 1973, Đạo luật về tư pháp hình sự năm 1982, Đạo luật về cảnh sát và chứng cứ trong các vụ án hình sự năm 1984, Đạo luật về các cơ sở cải tạo đối với các nhóm người phạm tội khác nhau…
Ngày 09/5/2007, Bộ Tư pháp được thành lập tiếp nhận trách nhiệm quản lý hệ thống nhà tù tại Anh. Việc quản lý các hoạt động liên quan tới tù giam là trách nhiệm của Cơ quan Quản lý phạm nhân Quốc gia (NOMS)
– một cơ quan thừa hành của Bộ Tư pháp. Nhiệm vụ của NOMS là thực thi
các bản án và quyết định từ các tòa án của Anh thông qua việc ủy thác các dịch vụ liên quan tới phạm nhân là người trưởng thành đang bị giam giữ trong nhà tù hay quản thúc ở ngoài cộng đồng cho các tổ chức nhà nước, tư nhân và bên thứ ba [41, tr48].

3.3 Pháp luật về thi hành hình phạt tù chung thân ở Cộng hòa Pháp

Pháp được coi là nơi sinh ra hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa. Khác với Anh, pháp luật thi hành án hình sự của Pháp không có án lệ mà được điều chỉnh chỉ bởi các đạo luật có các quy phạm pháp luật thi hành án hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật thi hành án hình sự khác . Trong Bộ luật tố tụng hình sự của Pháp ban hành ngày 31/12/1957 đã được sửa đổi nhiều lần, lần sửa đổi, bổ sung mới nhất vào năm 2012. Quyển V Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp quy định về thủ tục thi hành án, trong đó quy định về việc thi hành các bản án hình sự. Theo đó, cơ quan thi hành án hình sự được quy định là Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm và Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Tòa phúc thẩm có quyền trực tiếp yêu cầu lực lượng công quyền hỗ trợ để bảo đảm việc thi hành án [41, tr49]. Trong mỗi Tòa sơ thẩm có một hoặc nhiều thẩm phán đảm nhiệm chức năng thẩm phán thi hành hình phạt. Các Ủy ban giám sát và giúp đỡ những người tha tù được lập ra tại các Tòa án theo danh sách của Chính phủ quy định bằng Nghị định.
Việc giáo dục phạm nhân được quy định: Kết quả lao động và học nghề là những tiêu chuẩn đánh giá để bảo đảm việc tái hòa nhập xã hội và đạo đức của phạm nhân. Trong các trại giam, phải tiến hành công tác chuẩn bị cần thiết để bảo đảm hoạt động nghề nghiệp cho người bị giam, nếu họ muốn. Quan hệ lao động của phạm nhân không phải là đối tượng hợp đồng lao động, trừ những hoạt động tiến hành bên ngoài trại giam.
Chế độ giam giữ, cải tạo đối với từng phạm nhân được quy định như sau: “ở mỗi trại giam, thẩm phán phụ trách thi hành án xác định những thể thức chính của chế độ giam giữ, cải tạo đối với mỗi phạm nhân. Trong phạm vi điều kiện do pháp luật quy định, thẩm phán phụ trách thi hành án cho phép phạm nhân được hưởng chế độ làm việc bên ngoài trại giam, chế độ bán tự do, được giảm thời hạn chấp hành hình phạt, được tạm đình chỉ thi hành hình phạt, được ra ngoài trại giam có người dẫn giải, được cấp giấy phép ra ngoài trại giam, được phóng thích có điều kiện” [41, tr49].
Việc miễn, giảm thi hành hình phạt tù trong đó có hình phạt tù chung thân được quy định như sau: “nếu người bị kết án bảo đảm có thể tái hòa nhập xã hội,thẩm phán phụ trách thi hành án có thể yêu cầu Tòa án nơi giam giữ người bị kết án cùng cấp với Tòa án đã tuyên án, chấm dứt việc áp dụng toàn bộ hay một phần các quy định về giáo dục, cải tạo phạm nhân được quy định trong Luật này hoặc giảm bớt thời gian bảo đảm thi hành hình phạt. Nếu bản án phạt tù do Tòa đại hình tuyên, Tòa án có thẩm quyền quyết định việc xin giảm là Tòa điều tra phúc thẩm thuộc hạt nơi người bị kết án đang bị giam.”
Tóm lại, việc thi hành hình phạt tù chung thân ở các nước tuy có khác nhau nhưng chung quy đều do một hệ thống cơ quan thi hành án thực hiện. Tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước mà tính chất, mức độ nghiêm khắc của hình phạt tù chung thân cũng khác nhau. Hoạt động thi hành hình phạt tù chung thân ở mỗi nước phản ánh rõ nét chính sách hình sự của nhà nước đó trong việc thể hiện mục đích trừng trị, giáo dục và cải tạo đối với người phạm tội
submitted by Helenmai123 to u/Helenmai123 [link] [comments]

Giao dịch ngoại hối ở Việt Nam - IronFX Nhân quyền – Tự do tôn giáo (VOA) Robot tự giao hàng Chain B – Sàn giao dịch hàng đầu tại hàn quốc Rút tiền giao dịch qua ATM tại ngân hàng lưu ý

Trong 9 lĩnh vực chủ yếu của khu vực dịch vụ phù hợp với vị trí, vai trò và tiềm năng của thành phố mà Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội TP.HCM 5 năm (2006-2010) của Đảng bộ TP.HCM đã đưa ra có giáo dục - đào tạo (GD-ĐT). Hai nhà nghiên cứu đã chia sẻ một số bài viết với những ví dụ nổi bật về năng lực sáng tạo cũng như tinh thần vì cộng đồng của người dân Việt Nam trong đại dịch COVID-19. Ví dụ, Giáo sư Philip Altbach từ Boston College và Lawrence Summers, khi đó là hiệu trưởng đại học Harvard, đều cho rằng giáo dục là một hoạt động đặc thù không giống như các dịch vụ khác như dịch vụ tài chính, bảo hiểm, đầu tư. (Chinhphu.vn) - Với việc 99,3% giao dịch điện tử qua dịch vụ công trực tuyến, Kho bạc Nhà nước TPHCM cơ bản trở thành kho bạc “ba không”: Không tiền mặt, không chứng từ giấy, không khách hàng giao dịch tại quầy. - Thông tin chính thống hoạt động, quyết định, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng, Phó Thủ ... Một trong những ngân hàng cung cấp dịch vụ Western Union Online tốt nhất tại Việt Nam ở thời điểm hiện tại. Hơn nữa Techcombank còn nằm trong top 10 ngân hàng TMCP tư nhân uy tín nhất cho nên bạn có thể an tâm về chất lượng dịch vụ tại đây. Đội ngũ giao dịch viên nhiều được đào tạo chuyên nghiệp, thủ tục ...

[index] [5484] [2212] [4005] [13680] [572] [6112] [171] [2412] [12350] [6339]

Giao dịch ngoại hối ở Việt Nam - IronFX

1. Top 6 Nhà Môi Giới Toàn Cầu về khối lượng giao dịch. 2. Được kiểm soát bởi 5 cơ quan tài chính khác nhau. 3. 50 Văn phòng trên toàn cầu và trên 650 nhân ... Luật Dân quân tự vệ 2009 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành. Trong đó quy định 7 nhiệm vụ của Dân quân tự vệ như sau : Điều 5 ... Lưu ý khi quay video không thao tác rút được tiền do một số ngân hàng chống phát hiện có thể do ngân hàng sợ gian lận. Thẻ ngân hàng là một phương tiện ... +Giao dịch liên tục 24/7: 24 giờ, 365 ngày liên tục với hệ thống vận hành tự động đảm bảo yếu tố an toàn cao nhất vì đội IT chuyên nghiệp và giàu kinh ... Robot tự giao hàng ... Chú robot này được tạo ra nhằm đáp ứng thị trường đang ngày càng mở rộng của dịch vụ giao hàng trong nội đô, người đồng sáng ...

http://forex-portugal.forex-binary-options.online