Công cụ chuyển đổi Tiền tệ, Tỷ giá ngoại tệ

Forex là gì? Thị trường Forex giao dịch như thế nào?

Chuyển đến nội dung
📷
📷

Forex là gì? Thị trường Forex giao dịch như thế nào?

26 Tháng Ba, 2020 Bởi Nguyễn Duy Kiệt
Forex đối với những ai làm trong lĩnh vực chứng khoán và tiền tệ sẽ không còn quá xa lạ. Tuy nhiên để thực sự hiểu sâu và hiểu đúng về quy cách của forex thì không phải ai cũng biết.
Bài viết dưới đây của Kiệt hôm nay sẽ giúp bạn hiểu được forex là gì? và những thông tin cần biết về forex. Hy vọng sẽ cung cấp được những thông tin bổ ích cho bạn.

Forex là gì?

Nội dung bài viết
Forex là từ được viết tắt Foreign Exchange. Nó có nghĩa tức là trao đổi tiền tệ quốc tế. Hay nói cách khác Forex là thị trường ngoại hối nơi mà các hoạt động trao đổi, buôn bán tiền tệ đủ loại trên thế giới diễn ra nhờ những hệ thống quản lý trung gian của các ngân hàng cũng như những địa chỉ quản lý riêng như các tổ chức tín dụng.
📷Forex là gì?
Đối với một số người khi nghe thấy định nghĩa Forex sẽ thấy sự xa lạ. Thường người ta sẽ nghĩ rằng chỉ có những thời điểm bản thân đi du lịch nước ngoài thì mới có cơ hội giao dịch Forex. Điều đó có thể là đúng đắn tuy nhiên chưa hề đủ.
Giao dịch ngoại hối Forex là một hoạt động rất thường nhật. Và tất cả chúng ta đều đang tham gia công việc này một cách gián tiếp.
Bạn có thể tham khảo một ví dụ cơ bản như thế này để hiểu rõ hơn đó là: Những món hàng được nhập khẩu từ các quốc gia khác trên thế giới được chuyển giao nhiều đến nước mình.
Khi mua hàng tuy bạn mua gián tiếp nhưng thực chất những người giao dịch đầu tiên sẽ sử dụng thị trường Forex để trao đổi. Đó được gọi là thị trường giao dịch trực tiếp đầu tiên với những hệ thống tiền tệ quốc tế. Bạn mua hàng sẽ là thế hệ giao dịch đợt gián tiếp.
Một trường hợp giao dịch Forex nữa đó chính là khi bạn có những chuyến du lịch hay là di chuyển sang nước ngoài.
Bất cứ một hình thức giao dịch nào với tiền tệ quốc tế cũng được xem là một hình thức giao dịch Forex mà có thể chính bạn đang trải qua. Đó là những ví dụ cụ thể và đơn giản nhất của việc trao đổi Forex.
Xem thêm: IPO là gì ?

Tìm hiểu thị trường Forex giao dịch gì?

Vậy bạn có biết thị trường forex giao dịch những gì không? Hiện nay forex đang cung cấp tổng cộng cho 600 trader trong đó có tiền điện tử, chứng khoán, hàng hóa,…. Và chính mỗi trader đều sử dụng tiền tệ để trao đổi forex. Mỗi một sản phẩm đều được trao đổi theo hình thức cặp đôi và có mang tên của 1 loại tiền tệ cơ bản nhất.
📷Thị trường forex giao dịch những gì?
Sở dĩ được hiểu và quy định như vậy, là bởi trader hiện nay luôn giao dịch dựa trên các quy định của những loại hợp đồng chênh lệch CFD.
Chính vì vậy mà bạn không cần phải sở hữu chúng, chỉ cần dựa trên sự biến động về giá cả tiền tệ bạn cũng có thể kiếm lời được từ sàn giao dịch Forex rồi.

Quy mô thị trường Forex

Vậy còn quy mô của Forex như thế nào? Quy mô của Forex được biết hoạt động liên tục 24/5 từ thứ 2 đến thứ 6. Thị trường Forex không giống như những thị trường truyền thống.
Nó không có trung tâm giao dịch cụ thể. Nó chỉ hoạt động giao dịch theo hình thức thông qua hoạt động của các thiết bị đầu cuối. Vì vậy chỉ cần thiết bị của bạn có kết nối internet thì bạn hoàn toàn có thể kết nối và giao dịch Forex được.
📷Quy mô của thị trường forex
Theo thống kê trong vòng 10 năm khối lượng giao dịch forex tăng lên gấp 10 lần. Điều này diễn ra chính bởi sự phát triển của internet cũng như sự phát triển của hệ thống thanh toán ngân hàng, các trung tâm điều khiển,…. Và sự ảnh hưởng lớn nhất đến phạm vi của forex đó chính là sự phát triển của những nhà đầu tư nhỏ lẻ.
Có thể cảm nhận được rằng forex là thị trường tiềm năng mà bạn không nên bỏ qua. Với sự phát triển như hiện nay, bạn hoàn toàn có thẻ không dừng lại ở những mức lãi suất thấp mà sẽ ngày càng phát triển nguồn vốn cao hơn.
Forex không dừng lại ở quy mô nhỏ lẻ mà có khả năng phát triển đến những giao dịch với khối lượng khổng lồ. Và đương nhiên rằng cũng sẽ có những thua lỗ nhất định nhưng sự vững chắc vị trí đứng của nó là rất cao.
Xem thêm: OTC là gì? Cổ phiếu OTC được chia làm bao nhiêu loại?

Những ai đang tham gia giao dịch forex?

Bạn có biết những ai đang giao dịch forex? Chính bạn cũng đang giao dịch đấy nhé! Forex phân tầng theo những cấp độ hoàn toàn khác nhau.
Và cấp độ lớn nhất đó là các cấp giá thuộc hạng tier 1 đó là các ngân hàng thương mại, các ngân hàng đầu tư chiếm mức giá lên đến khoảng 60% tham gia giao dịch trong thị trường ngoại hối.
📷Những ai đang tham gia giao dịch forex
Tiếp đến cấp bậc thứ 2 là khách hàng của những ngân hàng này. Họ có nguồn vốn nhỏ hơn. Tiếp đến là các tập đoàn lớn đa quốc gia hay những quỹ phòng hộ,… và các forex tạo dựng thị trường nhỏ lẻ.
Đó là những thành phần tham gia thị trường ngoại hối forex nhỏ và lớn khác nhau. Chính việc mua bán hằng ngày của bạn cũng là một hình thức tham gia vào thị trường ngoại hối.

Những nhà cung cấp nguồn vốn lớn cho thị trường forex

Tiếp theo chúng ta cùng tìm hiểu về những nhà cung cấp nguồn vốn lớn hiện nay. Chính sự phân tầng của forex vì thế mà phát sinh ra một số chênh lệch cũng như phí hoa hồng. Không kể đến còn một khoản phát sinh trong quá trình giao động lên xuống của forex.

Ngân hàng trung ương

Đầu tiên là ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc chi phối thị trường. Ngân hàng trung ương tạo dựng ra một nguồn vốn lớn và làm nên sự ổn định cho nền kinh tế mỗi quốc gia và trên thế giới.
📷Những nhà cung cấp nguồn vốn cho thị trường forex
Ngân hàng trung ương tham gia vào thị trường ngoại hối forex. Nó có vai trò cân bằng lại lực lượng tham gia cũng như có vai trò quản lý tiền tệ của chính phủ một cách dễ dàng hơn rất nhiều.
Ngân hàng trung ương không can thiệp nhiều vào các lực lượng tham gia forex cũng như những kế hoạch cấp vốn với thời gian ngắn hạn.
Ngân hàng trung ương giúp chính phủ của các quốc gia có một nguồn vốn dự trữ an toàn để đáp ứng được nhu cầu trao đổi tiền tệ trong nước.

Quỹ tiền tệ quốc tế

Tiếp đến là quỹ tiền tệ quốc tế. Đây là những ngân hàng thuộc về nền kinh tế đang phát triển. Và mục đích lớn nhất của quỹ tiền tệ quốc tế chính là tài trợ cho những dự án xã hội cũng như là giúp vào việc phát triển các cơ sở hạ tầng.
Đồng thời cũng có vai trò giúp kích thích cho sự phát triển của nền kinh tế đối với một số những lĩnh vực nhất định.

Công ty thương mại

Tiếp đến đó là công ty thương mại. Đây là một trong những thành phần quan trọng đối với việc điều hành những hoạt động trên thị trường forex.
So sánh với những công ty dịch vụ thương mại hay là các dịch vụ thanh toán thì công ty thương mại này chiếm một số lượng ít hơn hẳn.
Tuy nhiên nó có tác động lớn đối với dòng chảy thương mại cũng như những hệ thống các nguồn vốn trên thị trường forex.
Chính vì thế mà một số công ty đa quốc gia có thể đem đến sự tác động lớn đến việc tăng giảm cũng như lợi nhuận trong quá trình tiền tệ quốc tế. Đó là các nhà cung cấp nguồn vốn và có tác động trực tiếp đến hoạt động của thị trường ngoại hối.
Trên đây là toàn bộ những thông tin chi tiết nhất về forex là gì, hoạt động và quy mô của nó ra sao. Đồng thời cũng là các thông tin về nhà cung cấp vốn chính xác mà Kiệt chia sẻ vô cùng chi tiết.
Hy vọng những thông tin trên đây thực sự hữu ích cho bạn. Hãy truy cập website : https://duykiet.com/ mỗi ngày để tham khảo thêm những định nghĩa mới, các thông tin mới được cập nhật thường xuyên nhé!
4.5 / 5 ( 4 bình chọn )

Bài viết liên quan :

Danh mục
ĐẦU TƯ,CHỨNG KHOÁN
Điều hướng bài viết
Hosting là gì? Tất cả những gì liên quan đến Hosting bạn không nên bỏ lỡ
Shark Liên là ai? Tiểu sử với những bí mật chưa từng tiết lộ

Tác giả

📷
Duy Kiệt / Nguyễn Duy Kiệt
Tôi đã có 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực digital marketing, đầu tư tài chính, kinh doanh và MMO . Tôi có nhiều dịch vụ, các khóa học marketing, tư vấn doanh nghiệp, marketing tổng thể xin vui lòng liên hệ 0969.5678.33
Connect with
📷
{}
[+]
0 COMMENTS
📷
Dang Tuan Chau
5 months ago
Khóa học “FOREX THỰC CHIẾN KIẾM TIỀN TẠI LỚP” FREE 100►Giúp bạn có thể kiếm thu nhập bình quân trên 50USDngày :http:bit.ly2BomhPj►Đc : Phòng 11012 Tầng 11 Tòa nhà WASECO số 10 Phổ Quang P.2 Q.Tân Bình TP. HCM
0
Reply

Dịch vụ của chúng tôi

Hot Nhất Hiện Nay

Bài Viết Mới

📷
Số 100/50 Mễ trì thượng, Nam từ liêm, Hà Nội
📷

Đăng ký để cập nhật tin tức kinh doanh mới nhất từ website

Chúng tôi sẽ không thuê hoặc bán hoặc spam email của bạn.

Về Doanh Nghiệp

© 2020 Duy Kiệt • Được phát triển bởi GeneratePress
Sources:
https://duykiet.com/forex-la-gi/
submitted by prosaccobrad370 to u/prosaccobrad370 [link] [comments]

Tiểu Sử Đặng Lê Nguyên Vũ Đầy Đủ Nhất - Chủ Tịch Tập Đoàn Trung Nguyên

Từ sau khi vụ ly hôn nghìn tỷ tạm khép lại, cái tên Đặng Lê Nguyên Vũ vẫn được nhiều người chia sẻ trên mạng xã hội. Nhưng trước đó, ít ai biết đến con đường chinh phục giấc mơ cà phê Trung Nguyên của ông như thế nào. Liệu cà phê Trung Nguyên có phải là tất cả để nhớ về con người vĩ đại này? Hãy cùng TrungThanh.Net tìm hiểu tiểu sử của Đặng Lê Nguyên Vũ trong bài viết dưới đây nhé!
Được công nhận là “ông vua cà phê Việt”, là “linh hồn” của thương hiệu cà phê Trung Nguyên, người khai sáng triết lý cà phê và nâng ý nghĩa kinh doanh lên giá trị mới. Nhưng khi đối mặt với đổ vỡ hôn nhân, ông lại khiến cho nhiều người trăn trở “Tiền nhiều để làm gì?”

Tóm tắt tiểu sử Đặng Lê Nguyên Vũ

Đặng Lê Nguyên Vũ là ai?

Đặng Lê Nguyên Vũ (sinh ngày 10 tháng 2 năm 1971) là một doanh nhân nổi tiếng Việt Nam. Ông là nhà sáng lập, đồng thời là chủ tịch, kiêm Tổng Giám đốc của Tập đoàn Trung Nguyên, Việt Nam. Ông là người được National Geographic Traveller và Forbes Asia vinh danh là “Vua Cà phê Việt Nam”.
Theo giới doanh nhân phương Tây, tài sản cá nhân của ông có thể lên tới 100 triệu USD . Khi được Forbes vinh danh “ Vua cafe Việt “ ông cùng với chủ tịch Vinamilk Kiều Liên , là một trong số những doanh nhân Việt được Forbes ca ngợi.
Khởi nghiệp bằng con đường cà phê, ông Vũ không chỉ làm sáng thương hiệu kinh doanh của mình. Ông còn nâng tầm ý nghĩa kinh doanh, là người khai sáng triết lý cà phê Trung Nguyên hình thành đạo cà phê với Học thuyết cà phê, “cà phê triết đạo nhân sinh” thể hiện sự đóng góp của cà phê đối với nhân loại. Ông cũng là người đưa nước Việt trở thành “thánh địa cà phê” toàn cầu.
Tuy nhiên, khi Trung Nguyên đang ở đỉnh cao thì ông lại gặp phải cuộc “nội chiến” sóng gió với chính người vợ của mình. Việc tranh chấp khối tài sản khổng lồ giữa ông và bà Lê Hoàng Diệp Thảo cùng những phát ngôn trong quá trình phân xử đã khiến dư luận trong và ngoài nước xôn xao.

Sự nghiệp của Đặng Lê Nguyên Vũ

Năm 1981, bố ông gặp trọng bệnh, gia cảnh sa sút, hình thành ý chí làm giàu trong ông. Năm 1992 , nhập học khoa Y , Đại học Tây Nguyên . Vừa đi học ông vừa đi làm kiếm sống Năm 1996 , hợp tác với 3 người bạn lập nên “Hàng cà phê Trung Nguyên ”, bấy giờ chỉ là một cơ sở rang xay với diện tích vài m2 và chiếc máy rang bằng tay cũ kĩ, và công việc giao cà phê rang xay cho các quán khác Năm 1998, công ty Trung Nguyên lần đầu tiên mở quán cà phê ở Thành phố Hồ Chí Minh, được nhắc đến như là doanh nghiệp đầu tiên kinh doanh mô hình nhượng quyền thương hiệu và bắt đầu xuất hiện các quán cà phê nhượng quyền thương hiệu Trung Nguyên. Từ năm 2000, thương hiệu Trung Nguyên và cái tên Đặng Lê Nguyên Vũ bắt đầu được nhiều người biết đến. Năm 2005, Hãng cà phê Trung Nguyên được xem là nhà chế biến cà phê lớn nhất Việt Nam, vượt qua tất cả các đối thủ nước ngoài. Cà phê Trung Nguyên được Bộ Ngoại giao Việt Nam chọn làm Đại Sứ ngoại giao văn hóa và làm quà tặng các nguyên thủ quốc gia.

Gia đình của Đặng Lê Nguyên Vũ

Ông Đặng Lê Nguyên Vũ và bà Lê Hoàng Diệp Thảo từng là đôi vợ chồng khiến nhiều người phải ngưỡng mộ. Tuy nhiên, sau hơn 2 thập kỷ ở bên nhau, cả hai đã không tìm được tiếng nói chung và quyết định "đường ai nấy đi".
📷
4 người con của Đăng Lê Nguyên Vũ bao gồm:
4 người con của ông Đặng Lê Nguyên Vũ và bà Lê Hoàng Diệp Thảo đang sinh sống, học tập tại Mỹ. Trước cuộc chiến ly hôn ồn ào của bố mẹ, thiếu gia lớn đã từng khuyên mẹ sớm chấm dứt để tìm bình yên. Cho đến nay, ông Vũ, bà Thảo vẫn chưa thể có tiếng nói chung để đi đến quyết định cuối cùng.
📷
Khác với ông Vũ, bà Thảo lại khá cởi mở mỗi khi nói về con. Đặc biệt là hai ái nữ của Đặng Lê Nguyên Vũ, bà Thảo không ngần ngại công khai hình ảnh trên truyền thông và trên trang cá nhân của mình. Hai con gái của ông Vũ sở hữu nhiều nét của cả bố và mẹ, vô cùng duyên dáng, đáng yêu. Bà chủ King Coffee thường xuyên đưa hai công chúa đi sự kiện cùng.

Tuổi thơ gian nan của “ông vua cà phê Việt” Đặng Lê Nguyên Vũ

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Đến năm 1979, ông Vũ cùng gia đình di cư đến sinh sống tại huyện miền núi M’drak, thuộc tỉnh Đắk Lắk. Tuổi thơ của “ông vua cà phê” gắn liền với con đường mòn 15km từ nhà đến trường, với những nương ngô, đàn lợn.
Năm 1981, gia đình ông Vũ xảy ra biến cố khi bố ông gặp trọng bệnh, gia cảnh sa sút. Ông tâm sự: “Tôi không bao giờ quên được cái ngày tăm tối đó, khi bố tôi đổ bệnh nặng mà chạy vạy khắp trong dòng tộc không làm sao kiếm đủ 2 triệu đồng cho ông chữa bệnh!”. Ý chí làm giàu trng ông cũng được hình thành từ đây.
Khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới năm 1986, Đặng Lê Nguyên Vũ lúc đó còn là một học sinh phổ thông. Hàng ngày còn phải bẻ ngô, chăm lợn và giúp mẹ đóng gạch.
Tuy vậy, ông là một học sinh có thành tích nhất nhì. Năm 1990, ông thi đỗ vào trường Đại học Y Tây Nguyên. Để có tiền cho con lên thành phố ăn học, mẹ ông đã phải bán đi nhiều tạ lúa và nhiều thứ khác trong nhà.
Ngoài ra, vừa đi học, ông cũng vừa đi làm thêm kiếm sống. Trong thời gian này, Nguyên Vũ đã bắt đầu các hoạt động tìm tòi và nghiên cứu về lĩnh vực cà phê. Và cho đến bây giờ, các hoạt động của ông đều gắn liền và xoay quanh tình yêu với cà phê.
Khi đang học năm thứ ba, Đặng Lê Nguyên Vũ quyết định bỏ học khi chợt nhận ra mình không muốn trở thành một bác sĩ. Ông chia sẻ: “Mẹ ông đã khóc gần như hết nước mắt khi tôi quyết định dứt áo ra đi. Nhiều bạn trong lớp bảo tôi không bình thường, chỉ có ba người bạn có thể hiểu và chia sẻ được những điều tôi nghĩ – đó là không chấp nhận “ngủ trong giường chiếu hẹp, mơ những giấc mơ con”. Đám bạn vét hết tiền trong túi nhét cho tôi được gần 100.000 đồng.”
Như vậy là ông Vũ quyết định lên nhà chú ở Sài Gòn để bắt đầu lập nghiệp. Nhưng không may, ông bị ông chú ném trả về Đắk Lắk bằng chiếc vé máy bay kèm câu nói “học cho xong đi đã”.
Xem thêm: Tiểu sử Phạm Nhật Vượng đầy đủ nhất - Chủ tịch tập đoàn Vingroup

Con đường trở thành ông vua cà phê Việt

Giấc mơ toàn cầu từ một làng quê nghèo

Bài viết được trích lại dưới đây của báo Tuổi trẻ TP HCM vào năm 2004 có lẽ đã khắc họa cơ bản nhất hình ảnh Đặng Lê Nguyên Vũ thời dựng nghiệp. Bài viết được tờ báo hàng đầu Việt Nam ghi theo lời kể của nhân vật.
Tôi có thể nói không sợ quá lời rằng sự xuất hiện của Trung Nguyên đã mang lại một không khí thưởng thức cà phê mới tại VN, và ở nhiều nơi trên thế giới giờ đây nói đến cà phê VN là người ta đều biết tới thương hiệu Trung Nguyên.
📷
Thủ tướng Phan Văn Khải thưởng thức cà phê Trung Nguyên
Tuổi thơ thời đi học của tôi là cảnh lội bộ trên con đường đất đỏ dài 15km trong suốt chín năm, ngày nắng cũng như mưa. Niềm vui trên con đường dài đến trường và về nhà là khi đi ngang qua trạm thuế vụ, thỉnh thoảng có được quả chuối chín hoặc vài củ khoai lang ăn sống của những người buôn bán tốt bụng cho.
Vui nhất là khi có thể quá giang phía sau chiếc xe chở gạch về nhà khi đôi chân đã muốn quị vì lội bộ. Năm tôi vào lớp 10, gia đình mua cho chiếc xe đạp cũ để lên Buôn Ma Thuột đi học.
Năm 1990, tôi thi đậu Đại học Y khoa Tây nguyên; từ xã Madrăk hẻo lánh, mẹ tôi phải bán đi nhiều tạ lúa và nhiều thứ khác trong nhà để tôi lên Buôn Ma Thuột nhập học. Những ngày học ở trường y, lúc nào tôi cũng trăn trở về công việc và cuộc sống của người thầy thuốc. Càng học lên, điều đó càng bứt rứt trong lòng tôi. Muốn có cuộc sống khấm khá hơn, phần nhiều những người học y chúng tôi đã quên lời thề Hippocrate. Xót xa quá! Và với tôi, cách tốt nhất không vi phạm lời thề là... bỏ nó luôn, làm việc khác. Nhưng làm gì đây?
📷
“Nhà tôi không có ai hói đầu hay rụng tóc nhưng tôi thì chẳng còn bao nhiêu sợi tóc. Tôi đã phải trả giá cho những khát vọng luôn thiêu đốt mình. Mỗi sáng khi soi gương, tôi đều gặp lại sự “trả giá” của mình: có hôm tóc rụng thành nắm khi chải hay vuốt tóc...”
Làm gì ở tuổi 22 tôi chưa biết được. Nhưng luôn thiêu đốt tôi là phải làm được điều gì đó để đổi đời, không thể nghèo mãi được. Mẹ tôi lam lũ quanh năm đầu tắt mặt tối, suốt ngày mặt người lẫn trong ruộng rau lang, chiếc nón cũ hiếm khi rời khỏi đầu. Tôi luôn hình dung lại được cảnh mẹ tôi nặng nhọc bưng từng chồng gạch, hay tất tả chạy ra ruộng rau lang hái đọt non đem bán kiếm miếng ăn cho cả nhà. Mẹ tôi nghĩ cuộc sống nghèo khổ của gia đình chúng tôi là số mệnh ở trời. Mỗi lần tôi về thăm nhà thì mẹ tôi vừa vui vừa lo. Vui vì có con trai về thăm nhà và lo vì khi tôi rời nhà, bà cụ phải chạy vạy một hai trăm ngàn cho tôi làm lộ phí đến trường. Tôi không bao giờ quên được cái ngày tăm tối đó, khi bố tôi đổ bệnh nặng mà chạy vạy khắp trong dòng tộc không làm sao kiếm đủ 2 triệu đồng cho ông chữa bệnh!
Tôi ở trọ tại Buôn Ma Thuột và làm công luôn cho nhà trọ này: làm cỏ, hái cà phê, đem cơm nước cho nhân công ở rẫy... Ngày còn bé ở làng, tôi đã thạo hết những việc này.

Đạp tung giường chiếu hẹp

Tôi luôn nghĩ về những người trồng cà phê, làm vườn lam lũ như bố mẹ tôi. Tôi biết cà phê rất có giá nhưng không biết vì sao người trồng cà phê lại rất nghèo. Nhưng người trồng cà phê vẫn nhẫn nại mỗi ngày cháy da trên nương rẫy, như mẹ tôi, không lời thở than. Tôi không chịu được vậy. Nghĩ tới sự cam chịu là huyết quản tôi sôi sùng sục. Miếng ăn lúc đó đối với tôi không quan trọng bằng suy nghĩ phải sống như thế nào.
Mẹ tôi đã khóc gần như hết nước mắt khi tôi quyết định dứt áo ra đi. Nhiều bạn trong lớp bảo tôi... không bình thường, chỉ có ba người bạn có thể hiểu và chia sẻ được những điều tôi nghĩ – đó là không chấp nhận ngủ trong giường chiếu hẹp, mơ những giấc mơ con. Đám bạn vét hết tiền trong túi nhét cho tôi được gần 100.000 đồng.
Tôi ra bến xe đi vào Sài Gòn với một mảnh giấy nhỏ ba tôi ghi tên người chú và địa chỉ nhà ở khu vực Tạ Thu Thâu. 6 giờ sáng, đến bến xe miền Đông, trong túi tôi còn đúng 20.000 đồng. Gọi một ly cà phê vỉa hè 2.000 đồng, tôi ngồi nhâm nhi và mở to mắt nhìn Sài Gòn cho biết. Thành phố to quá, ngoài sự tưởng tượng của tôi. Tôi có cảm giác mình đã bước sang một thế giới hoàn toàn khác...

Quay về!

Chú tôi người Đà Nẵng, vào sống ở Sài Gòn đã lâu. Tôi chưa từng gặp mặt ông và dĩ nhiên ông cũng không thể biết có một đứa cháu là tôi. Mãi đến trưa chú tôi vẫn chưa về. Mệt, đói và buồn ngủ khủng khiếp. Tôi chỉ còn hơn 10.000 đồng, không thể phung phí được. Sau này, thỉnh thoảng tôi vẫn tìm lại cái góc nhà nơi mình đã ngồi lần đầu tiên khi đặt chân đến Sài Gòn.
May sao quá trưa thì có người bà con từ Đà Nẵng vào. Thím tôi báo vụ việc với người bà con và tôi được gọi vào nhà. Việc đầu tiên là đánh một giấc tới xế chiều. Mở mắt ra đã thấy chú tôi đợi sẵn. Hai chú cháu hàn huyên tâm sự. Tôi bày tỏ nỗi lòng của mình: một, quyết đi không trở lại; hai, việc gì cũng làm; ba, phải đổi đời. Tôi kể với chú những điều tôi nung nấu. Về chuyện nghèo là nhục. Về chuyện ba tôi bệnh mà cả dòng tộc không thể đào đâu ra đủ 2 triệu đồng…
Chú tôi nghe tất cả nhưng rồi “gút”: “Tất cả những điều cháu nung nấu đều đúng nhưng không phải lúc này. Việc lúc này là học cho xong cái đã”. Cuối cùng ông hứa: học cho xong đi rồi xuống Sài Gòn ông giúp cho làm ăn. Còn trước mắt cứ ở chơi, chừng nào chán thì về. Tôi ở đúng 10 ngày thì đầu óc dịu lại, nghĩ đến việc phải về tiếp tục học. Hôm về, chú mua cho vé máy bay. Lần đầu tiên bay lên bầu trời, tôi đã sớm có mơ ước được bay đi khắp thế giới. Từ trên cao nhìn xuống mới thấy chuyện trần gian khổ nhọc sao mà nhỏ bé, tôi thấy bình tâm hơn trước dù những khao khát vẫn đang sùng sục trong huyết quản.Tôi trở lại giảng đường đại học để bắt đầu con đường riêng.

Người thương kẻ ghét

📷

Cùng nhóm bạn tại “hãng cà phê ọp ẹp nhất” năm 1996 (Nguyên Vũ đứng thứ 2 từ trái)
Tôi có ba đứa bạn rất thân cùng phòng trọ. Có lẽ là đứa nghèo nhất trong đám nên tôi cũng là người sùng sục trước nhất về chuyện phải làm ra tiền, phải làm giàu. Tôi nghĩ: Tại sao nông dân trồng cà phê vẫn nghèo trong khi trên thế giới có quốc gia không trồng được cây cà phê nào vẫn giàu vì cà phê? Tại sao cà phê mình chỉ để xuất hạt thô mà không chế biến để xuất khẩu? Bốn thằng chúng tôi cùng chia sẻ suy nghĩ này và hùn tiền lại mua một lò rang cà phê.
Thuận lợi của chúng tôi lúc đó là trong trường có đông sinh viên tứ xứ nên qua họ chúng tôi biết được nơi nào có cà phê ngon. Ở Tuy Hòa có một quán cà phê rất ngon nên ngày nghỉ chúng tôi đi xe đến để hỏi dò bí quyết nơi bà chủ quán. Khi chúng tôi trình bày lý do và nguyện vọng của mình, bà chủ quán thật sự cảm thông với mấy thằng sinh viên khố rách áo ôm. Đêm đến, trở về Buôn Ma Thuột trong chuyến xe khuya, chúng tôi có trong tay bí quyết rang xay cà phê ngon của bà chủ quán tốt bụng.
Ngày khai trương lò rang cà phê, chúng tôi cũng tổ chức cúng để lấy hên, nhưng khi vừa cúng xong thì người bà con của ông chủ nhà về đã hất đổ mọi thứ, cắt bỏ hết dây điện. Chúng tôi đành phải chuyển lò rang đi nơi khác. Lò quay bằng tay, đốt bằng củi, hôm nào rang cà phê, bên dưới là mấy thằng ngồi học bài trên cái gác gỗ như bị nướng trong lò bát quái. Có vài vị hàng xóm sợ có ngày chúng tôi sẽ thiêu rụi nhà họ nên đi báo công an. Thế là một lần nữa lò rang của chúng tôi đành phải dẹp.

Hãng cà phê… ọp ẹp nhất thế giới!

Nhưng cũng có người giang tay với chúng tôi. Chúng tôi nhận về mỗi lần vài ba ký, rang, xay, đóng gói và chia nhau đi bỏ mối ở các quán. Sau đó thu tiền lại, trả và mượn tiếp vài ký khác. Logo của những bịch cà phê Trung Nguyên lúc đó là một mũi tên chĩa thẳng lên trời. Hình ảnh đơn giản ấy đã chứa trong đó biết bao khát vọng của tôi.
Thế rồi thương hiệu cà phê Trung Nguyên của nhóm “mấy thằng sinh viên khùng khùng” chúng tôi bắt đầu được chú ý và đã có khách uống cà phê ưa chuộng. Chúng tôi biết tuyển những hạt ngon để làm ra những phin cà phê đậm đà, thơm lừng. Năm 1996, chúng tôi quyết định “bung ra”. Khi “hãng” cà phê Trung Nguyên khai trương bảng hiệu ở cây số 3 (TP Buôn Ma Thuột) thì dân cư ở đây ai cũng phì cười trước cái “tổng hành dinh” ọp ẹp phát khiếp ấy! Toàn bộ bảng hiệu của “hãng” đều do chúng tôi bò ra tự vẽ, tự sơn phết cả đêm để kịp sáng mai khai trương. Mà khách hàng ngày khai trương không ai khác chính là những người bạn sinh viên học cùng trường, cùng lớp đến uống chung vui với chúng tôi. Đó là một sự kiện trọng đại trong đời tôi và lịch sử phát triển của thương hiệu cà phê Trung Nguyên. Ngồi trong cái hãng nhỏ bé đáng tự hào của mình ở phố núi, tôi căng mắt nhìn về hướng Sài Gòn.

Tơi tả trận đầu

Trận đầu trong chuyến “viễn chinh” của chúng tôi đến TP.HCM thảm bại hoàn toàn. Ngồi trên đống đổ nát mà mình dày công gầy dựng và qua đêm ở công viên với những người bạn, tôi cố gắng để không bị sụp đổ lòng tin và vẫn mãnh liệt nghĩ về ngày mai. Chúng tôi biết Sài Gòn là mảnh đất đầy tiềm năng để kinh doanh cà phê nhưng hiểu rằng mình chưa đủ sức. Kế hoạch mới của chúng tôi là sẽ mở các điểm kinh doanh ở miền Tây, lấy vùng nông thôn rộng lớn này làm hậu thuẫn cho việc kinh doanh của mình để từ đó làm “bàn đạp bao vây” tiến về Sài Gòn.
Chúng tôi tìm được một đối tác ở Long Xuyên để mở lò rang xay chế biến, phân phối cà phê tại miền Tây. Nhưng chỉ sau một vài tháng, cuộc “hôn phối” vụng về này thất bại hoàn toàn. Tôi còn nhớ rất rõ cảm giác thất trận ê chề khi lục tục cuốn gói với lỉnh kỉnh những lò cà phê quay tay cũ kỹ, ly tách, phin, muỗng... Sự thất bại này giúp tôi rút ra được một bài học: hợp tác làm ăn phải đồng thuận về tư tưởng, về phương thức kinh doanh, và quan trọng nhất là phải chọn đúng đối tác.

Tình bạn

Tôi còn nhớ sau khi dọn hết đồ đạc ở Long Xuyên về Sài Gòn, một người bạn chạy chiếc Honda Dame già cỗi đến đón tôi. Chạy đến công viên Bách Tùng Diệp (ngã ba Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Lý Tự Trọng, Q.1) thì chiếc xe già gãy làm đôi! Tôi không bao giờ quên hình ảnh chúng tôi qua đêm ở công viên. Mỗi lần đi ngang nơi này, tôi vẫn nhớ như in những cảm xúc của sự thất bại ở Long Xuyên và tình bạn ấm áp dưới gốc đa của buổi tối ngày nào.
Thất bại ở Long Xuyên làm chúng tôi cạn kiệt hoàn toàn về vốn liếng, công việc kinh doanh cà phê ở Buôn Ma Thuột cũng gặp nhiều bế tắc, chỉ cầm cự từng ngày. Vốn liếng đâu để tiếp tục duy trì công việc kinh doanh? Lúc đó, chúng tôi có một người bạn thân đã đi làm và dành dụm mua được một chiếc xe Dream. Thời điểm đó chiếc xe là cả một tài sản lớn của anh. Vậy mà chúng tôi dám ngỏ ý mượn xe đem bán làm vốn kinh doanh. Chúng tôi đặt vấn đề: cho mượn thì coi như đã mất và nếu thành công thì chúng tôi trả lại. Người bạn đồng ý.
Bây giờ tôi có thể đủ sức mua cả ngàn chiếc xe Dream nhưng vẫn không có chiếc xe nào quí giá bằng chiếc xe tình bạn của chúng tôi ngày đó. Có tình bạn vô giá đó tôi mới có được ngày hôm nay.

Từ một quán cà phê miễn phí

📷

Quán Trung Nguyên tại Tokyo
Tại thời điểm chúng tôi bắt đầu thăm dò thị trường Sài Gòn, mỗi hãng cà phê đều tài trợ cho một quán kha khá khoảng 5 triệu đồng/tháng - quá hớp đối với tài sản chúng tôi đang có chỉ là chiếc xe máy. Chúng tôi đi tìm những điểm bán cà phê nổi tiếng để học hỏi, tìm hiểu bí quyết chế biến rang xay cà phê ngon và được họ “trải lòng” rất đơn giản - bí quyết chỉ có mấy chữ: 10 triệu đồng.
Ngày 20-8-1998 đi vào lịch sử của cà phê Trung Nguyên khi chúng tôi khai trương quán cà phê đầu tiên tại 587 Nguyễn Kiệm (quận Phú Nhuận) với hình thức phục vụ uống cà phê miễn phí trong vòng 10 ngày. Và đó là cú đột phá lịch sử với dân khoái uống cà phê Sài Gòn khi lần đầu tiên có một quán cà phê miễn phí. Có một ông khách khoảng 60 tuổi đến uống và nói với tôi: “Tui uống cà phê ở Sài Gòn đến từng này tuổi nhưng đây là lần đầu tiên được uống cà phê không phải trả tiền”.
Quán đông nghịt suốt ngày đêm vì người ta truyền miệng nhau. Chúng tôi và mấy người bạn phục vụ suốt ngày đêm đến nỗi nói không ra tiếng mà trong lòng thì vui không thể tả. Chúng tôi đã định hình Trung Nguyên là quán cà phê mà khách hàng có thể mua hàng, uống cà phê đối chứng bằng cách đưa ra rất nhiều loại cà phê để khách chọn lựa và hướng dẫn cách thưởng thức cà phê “theo kiểu Trung Nguyên”. Điều khác biệt nhất của Trung Nguyên đối với tất cả các quán cà phê tại thời điểm đó là chúng tôi giúp cho khách hàng thấy được “chất” của cà phê, thấy được sự khác biệt đặc trưng giữa cà phê Robusta và Arabica, giữa Culi Robusta và cà phê Sẻ, cà phê Chồn...
Quán cà phê này vẫn duy trì hoạt động ở địa điểm cũ nhưng chắc ít ai biết chính từ quán cà phê đầu tiên này chúng tôi đã phát triển lên đến con số 500 quán cà phê tại VN như hiện nay và tiếp tục mở những quán cà phê Trung Nguyên khác tại nước ngoài.
Trung Nguyên còn có thể mở rộng diện ra hơn nữa nhưng lúc này chúng tôi sẽ tập trung vào việc kiểm soát và nâng cao chất lượng sản phẩm. Mặc dù nhượng quyền nhưng mục tiêu của Trung Nguyên vẫn là khẳng định tính đồng nhất: mỗi ly cà phê Trung Nguyên dù bạn thưởng thức tại TP.HCM hay ở thị trấn sông nước Năm Căn hoặc trên phố núi Sa Pa đều có chất lượng, hương vị như nhau...
ĐẶNG LÊ NGUYÊN VŨ

Lịch sử hình thành tập đoàn Cà Phê Trung Nguyên

Theo thông tin chính xác về nguồn gốc của thương hiệu “Cà phê Trung Nguyên”, sự thật không hề có câu chuyện “cùng nhau khởi nghiệp trong gian khó” của Đặng Lê Nguyên Vũ và Lê Hoàng Diệp Thảo. Trung Nguyên được sáng lập bởi ông Đặng Mơ (tức cha ruột của Đặng Lê Nguyên Vũ) từ năm 1986.
Đến năm 1996, ông Vũ chính thức trực tiếp quản lý công ty của cha. Hai năm sau đó, ông kết hôn với bà Thảo. Bấy giờ công ty chỉ mới là một cơ sở rang xay với diện tích vài m2 cùng với chiếc máy rang cà phê thủ công.
📷
Quán cà phê nhỏ ở Buôn Mê Thuột của ông chuyên giao cà phê rang xay cho các quán khác.
Hai năm sau (năm 1998), công ty Trung Nguyên chính thức “đáp sân” Sài Gòn lần đầu tiên tại 587 Nguyễn Kiệm (quận Phú Nhuận). Với mục tiêu mở rộng kinh doanh theo mô hình nhượng quyền thương hiệu. Kể từ đó các quán cà phê nhượng quyền thương hiệu Trung Nguyên xuất hiện phổ biến trên toàn quốc.
Chỉ trong vòng 10 năm, từ một hãng cà phê nhỏ bé nằm giữa phủ cà phê Buôn Ma Thuột, Trung Nguyên đã trỗi dậy thành một tập đoàn hùng mạnh với 6 công ty thành viên : Công ty cổ phần Trung Nguyên, công ty cổ phần cà phê hòa tan Trung Nguyên, công ty TNHH cà phê Trung Nguyên, công ty cổ phần thương mại và dịch vụ G7 và công ty liên doanh Vietnam Global Gateway (VGG ) với các ngành nghề chính thức bào gồm: sản xuất, chế biến, kinh doanh trà, cà phê; nhượng quyền thương hiệu và dịch vụ phân phối, bán lẻ hiện đại. Trong tương lai, tập đoàn Trung Nguyên sẽ phát triển với 10 công ty thành viên, kinh doanh nhiều ngành nghề đa dạng . Đi tiên phong trong việc áp dụng mô hình kinh doanh nhượng quyền tại Việt Nam , hiện nay Trung Nguyên đã có một mạng lưới gần 1000 quán cà phê nhượng quyền trên cả nước và 8 quán ở nước ngoài như : Mỹ, Nhật, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia, Ba Lan, Ukraia. Sản phẩm cà phê Trung Nguyên và cà phê hòa tan G7 đã được xuất khẩu đến 43 quốc gia trên thế giới với các thị trường trọng điểm như Mỹ, Trung Quốc. Bên cạnh đó, Trung Nguyên cũng đã xây dựng một hệ thống hơn 1000 cửa hang tiện lợi và trung tâm phân phối G7Mart trên toàn quốc.
Tính đến tháng 11/2018, chuỗi cửa hàng nhượng quyền Trung Nguyên Legend Cafe có 64 cửa hàng, đứng thứ 3 Việt Nam sau The Coffee House với 133 cửa hàng và Highlands Coffee với 233 cửa hàng.

Những dấu ấn của cà phê Trung Nguyên trên thị trường trong nước và quốc tế

Từ Cafe hòa tan G7

Năm 2003 là cột mốc đầu tiên đánh dấu sự bắt đầu “trỗi dậy” của trung Nguyên với việc phát triển thương hiệu cà phê hòa tan G7. Mặc dù chỉ chiếm một thị phần khiêm tốn nhưng Trung Nguyên đã dần dần khẳng định chỗ đứng trong thị trường cà phê Việt Nam.
📷
Năm 2003: Cà phê hòa tan G7 Trung Nguyên đánh bại đối thủ quốc tê
Theo số liệu của Euromonitor công bố đầu năm 2015 thì cà phê hòa tan Trung Nguyên đang đứng thứ 3 (chiếm 5%) thị phần Việt Nam, sau Nescafe (38,3%) và Vinacafe (37,5%).
Kế đến, công ty cafe Trung Nguyên khánh thành nhà máy chế biến cà phê lớn nhất Việt Nam tại Bình Dương năm 2005. Nhà máy này do vợ ông là bà Lê Hoàng Diệp Thảo, nguyên Tổng giám đốc Công ty Cổ phần cà phê hòa tan Trung Nguyên đứng tên. Tuy nhiên, chỉ sau 6 tháng mâu thuẫn tranh chấp vợ chồng, ông Vũ đã quyết định sang tên lại cho mình vào ngày 21/4/2016.
Tiếp đó năm 2006, ông Vũ quyết định thành lập hệ thống cửa hàng phân phối G7 Mart một mô hình siêu thị kiểu mới, với mức đầu tư 475 tỷ VNĐ cho mục tiêu 10.000 điểm bán lẻ. Nhưng chỉ sau 5 năm, mô hình này thất bại. Sau thất bại, năm 2011, G7 Mart chuyển hướng sang cộng tác nhượng quyền với Ministop của Nhật Bản nhưng cũng phải từ bỏ sau 4 năm.

Thương hiệu Trung Nguyên và cái tên Đặng Lê Nguyên Vũ vươn ra thế giới

Năm 2010, sản phẩm cà phê Trung Nguyên được xuất khẩu đến hơn 60 quốc gia trên toàn cầu, tiêu biểu như tại Mỹ, Canada, Nga, Anh, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, khối Asean.
📷
Năm 2010: Xuất khẩu cà phê ra thế giới
Ngày 27/4/2011 là ngày cái tên “Cà phê Trung Nguyên” xuất hiện trên tờ báo Financial Times (Thời báo Tài chính) danh tiếng như một trường hợp nghiên cứu điển hình về mô hình doanh nghiệp thành công và được bình chọn là một trong những doanh nghiệp thành công nhất. Trong đó có đoạn viết: “Đặng Lê Nguyên Vũ khơi dậy khát vọng của người dân Việt Nam. Một tầng lớp trung lưu đang nổi lên đã chấp nhận thương hiệu này và các quán cà phê Trung Nguyên trở thành những trung tâm xã hội quan trọng”.
Tiếp theo vào tháng 2/2012, Đặng Lê Nguyên Vũ lần đầu tiên được vinh danh một cách chính thức trên tạp chí uy tín National Geographic Traveller là “Vua Cà phê Việt”
Tháng 8/2012, Tạp chí Forbes nhắc lại danh hiệu này với lời ca ngợi “zero to hero” (nhân vật từ vô danh thành anh hùng).
Năm 2013: Cà phê Trung Nguyên hành trình lập chí vĩ đại. Cà phê hòa tan G7 Trung Nguyên kỷ niệm 10 năm ra đời, 3 năm dẫn đầu thị phần và được yêu thích nhất. Hành trình lập chí vĩ đại lan tỏa rộng khắp với cuộc thi Sáng tạo tương lai và ngày hội sáng tạo vì khát vọng Việt lần 2 thu hút 100.000 người tham gia.
Năm 2015: Cà phê của giàu có và hạnh phúc. Ra mắt mô hình Trung Nguyên Legend – Café của Giàu có và Hạnh phúc, trở thành chuỗi quán cà phê lớn nhất Đông Nam Á. Trao tặng 1,2 triệu cuốn sách đổi đời trong hành trình Lập chí vĩ đại – Khới nghiệp kiến quốc.
Năm 2016: Tập đoàn Legend toàn cầu. Công bố tổ chức hợp nhất Trung Nguyên Legend và danh xưng, Tầm nhìn xứ mạng mói. Ra mắt mô hình Trung Nguyên Family – Café năng lượng – Café đổi đời.
Năm 2017: Tiếp tục khẳng định và nâng tầm vị thế Thương Hiệu Việt ra quốc tế. Truyền cảm hứng khởi nghiệp thông qua “Hành trình Lập chí Vĩ đại – Khởi nghiệp Kiến quốc”

Nội chiến gia đình ông Đặng Lê Nguyên Vũ và bà Lê Hoàng Diệp Thảo

📷

Suốt cuộc đời Đặng Lê Nguyên Vũ không ngừng phấn đấu và sống với tình yêu mãnh liệt với “đạo cà phê”, khát vọng cống hiến cho đất nước và gặt hái thành công vang dội. Tuy thương trường ông là một anh hùng “bất phục” nhưng lại là một “bại tướng” trong chính cuộc hôn nhân với người vợ đã hơn 20 năm chung sống.
Sự việc bắt đầu vào tháng 5/2016, bà Lê Hoàng Diệp Thảo vợ ông Vũ đã gửi đơn kiến nghị đến UBND tỉnh, Văn phòng Tỉnh ủy tỉnh Bình Dương, đề nghị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty CP cà phê hòa tan Trung Nguyên ngày 21/4/2016. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận kinh doanh này đã được thay đổi tên người đại diện theo pháp luật từ bà Lê Hoàng Diệp Thảo sang ông Đặng Lê Nguyên Vũ. Kết quả giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao tại TP HCM, yêu cầu của bà Thảo đã được chấp thuận.
Về phía mình, ông Vũ cũng gửi đơn kiện bà Thảo vì bị chiếm đoạt con dấu và giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty cổ phần Đầu tư Trung Nguyên (TNH) cùng các công ty con thuộc Tập đoàn Trung Nguyên.
Với tình trạng này, ông yêu cầu bà Thảo chấm dứt hành vi đóng dấu lên chữ ký của người không có thẩm quyền của TNH; chấm dứt hành vi nhân danh TNH để thực hiện các công việc không thuộc thẩm quyền. Ngày 21/3/2018, Tòa Kinh tế TAND TP.HCM trong phiên xét xử sơ thẩm cũng đã chấp thuận yêu cầu của ông Vũ.
Đến nay, phía vợ ông đã rút lại đơn ly hôn và nung nấu giấc mơ “quay về một nhà” với chồng. Về phía mình, ông Vũ cũng tỏ rõ quyết định: bà Lê Hoàng Diệp Thảo là người đã gây ra nhiều tội lỗi và phải “sám hối” mới hết tội. Chính vì vậy, ngay cả khi bà Thảo muốn rút đơn ly hôn, ông Vũ cũng không đồng ý và kiên quyết muốn cuộc hôn nhân này phải chấm dứt.
Trả lời trên tạp chí Đẹp cách đây 5 năm, ông Đặng Lê Nguyên vũ từng cho rằng: “Phẩm chất quan trọng nhất của người đàn ông là hoài bão lớn. Đàn ông, cần nhất là mạnh mẽ. Còn bao dung thì hãy để cho phụ nữ. Tốt nhất, đàn ông thì chỉ nên là đàn ông, và phụ nữ thì chỉ nên là phụ nữ.”

Thiền định – con đường tâm linh của ông Đặng Lê Nguyên Vũ

Vào cuối năm 2013, “ông vua cà phê” Trung Nguyên Đặng Lê Nguyên Vũ đã nhịn ăn, ngồi thiền 49 ngày cùng một nhóm người tại núi M’drăk, Đăk Lăk.
Chia sẻ với báo chí, khi ấy ông cần một khoảng thời gian tịnh tâm, thiền và nhịn ăn trong 49 ngày để tinh thần minh mẫn, nghĩ những việc lớn.
Trong khoảng thời gian ấy, món nước mè đen là thực phẩm duy nhất để tiếp tế cho cuộc thiền hành.
Ông Vũ cho biết 5 năm qua, ông đã lĩnh hội hết đời sống nội tại, và có khả năng kiến tạo sự hoàn hảo cho chính mình và cho từng gia đình của nhân viên mình, thậm chí cho cả quốc gia và thế giới này bằng mọi giải pháp, mọi thứ.
Ông cũng khẳng định mình đã có lời giải cho tất cả mọi câu hỏi trên thế giới này, đồng thời sẽ đưa Trung Nguyên trở thành tập đoàn thống lĩnh toàn cầu, khác biệt và duy nhất toàn cầu.

Sở thích và các hoạt động xã hội

Không chỉ thành công trong kinh doanh, ông Vũ còn nổi tiếng là người yêu sách. Có thể nói sách của Đặng Lê Nguyên Vũ là một khối tài sản không hề nhỏ trong đời mình.
Đối với xung quanh, ông Đặng Lê Nguyên Vũ luôn mở lòng với người trẻ, đặc biệt là sinh viên. Ông thường khuyến khích họ khởi nghiệp, sáng tạo, thay đổi bản thân, cố gắng cống hiến cho đất nước.
Cho đến nay, ông chủ cà phê Trung Nguyên “vẫn in hàng trăm nghìn cuốn sách đồng hành sinh viên học sinh, khuyến học, nung chí quốc gia khởi nghiệp.” Bên cạnh đó, ông còn xây cả bảo tàng cà phê và các công trình sáng tạo, chữa lành… ở Daklak”.
Ngoài các hoạt động trên, Đặng Lê Nguyên Vũ còn cho ra đời sự kiện Ngày hội sáng tạo vì khát vọng Việt, chương trình Hành trình khát vọng Việtnhằm góp phần xây dựng cho đất nước một thế hệ thanh niên mới mang trong mình nhiều hoài bão lớn, quyết tâm lớn mở ra một kỷ nguyên hùng mạnh cho đất nước.
Gạt bỏ những ồn ào từ dư luận sau cuộc ly hôn với vợ, gần đây ông vẫn đồng hành thực hiện dự án “Hành trình từ trái tim”, dự án đã đi qua hàng chục địa phương trên cả nước, từ vùng núi cao vực sâu đến biển đảo xa xôi để trao tặng sách và hỗ trợ khởi nghiệp.

Những câu nói đáng suy ngẫm của “ông vua cà phê” Đặng Lê Nguyên Vũ

“Tiền nhiều để làm gì?“
“Những gì mà STARBUCKS đang làm dở tệ, họ không bán cà phê, mà đang bán nước có mùi cà phê pha với đường”
“Không cần phi thường, chỉ cần đồng cảm. Dĩ nhiên tôi là người nghiêm khắc, nhưng tôi cũng làvngười sẵn sàng tin và dám chấp nhận trả giá”.
“Đàn ông cần nhất là mạnh mẽ, còn bao dung thì hãy để cho phụ nữ. Tốt nhất, đàn ông chỉ nên là đàn ông và phụ nữ chỉ nên là phụ nữ”
“Nếu đặt mục tiêu xoá nghèo thì cứ nghèo mãi. Còn nếu đặt mục tiêu làm giàu, thì cái nghèo tự khắc sẽ biến mất lúc nào không biết”
submitted by ubatdongsan to u/ubatdongsan [link] [comments]

Muc tieu cua chinh sach tien te

Luận Văn Việt Group chuyên dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ uy tín xin chia sẻ bài viết về chính sách tiền tệ là gì? Mục tiêu của chính sách tiền tệ
📷
Chính sách tiền tệ là gì? Mục tiêu của chính sách tiền tệ

Tổng hợp 6 Công cụ của chính sách tiền tệ:

Chính sách tiền tệ gồm 6 công cụ chính sau:

1 Công cụ tái cấp vốn:

Là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các Ngân hàng thương mại, Khi cấp khoản tín dụng cho Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo ra cơ sở của Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ.

2 Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc:

Là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán (cho vay) của các Ngân hàng thương mại.

3 Công cụ nghiệp vụ thị trường mở:

Là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.

4 Công cụ lãi suất tín dụng:

Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất. Nó là 1 công cụ rất lợi hại. Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định.

5 Công cụ hạn mức tín dụng:

Là 1 công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.

6 Tỷ giá hối đoái:

Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ cung cầu ngoại hối. Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước.
Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữ của đất nước. Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ.
Ngoài dịch vụ viết luận văn tốt nghiệp của Luận Văn Việt, bạn có thể tham khảo dịch vụ làm báo cáo thuê, dịch vụ chạy spss , nhận viết essay thuê , thuê viết tiểu luận giá rẻ
#luan_van_viet, #luận_văn_việt, #lvv , #giá_viết_luận_văn_thạc_sĩ
Xem thêm: https://luanvanviet.com/chinh-sach-tien-te-la-gi-muc-tieu-cua-chinh-sach-tien-te/
submitted by luanvan24 to u/luanvan24 [link] [comments]

Nước Mỹ và những điều khác biệt thú vị

Nước Mỹ và những điều khác biệt thú vị
Nước Mỹ và những điều khác biệt thú vị
Nước Mỹ vốn được biết đến là một quốc gia có rất nhiều những điều khác biệt thú vị mà nhiều người gửi hàng đi mỹ tại tphcm không ngờ tới. Những điều tưởng chừng lạ lùng so với nhiều người lại có ở ngay trên nước Mỹ.
  1. Vợ chồng đánh nhau cũng bị ngồi tù
Mỹ chú trọng đến bảo vệ quyền phụ nữ trong các vấn nạn bạo hành gia đình gửi hàng đi mỹ tại quận 7
Ở bất cứ quốc gia nào cũng tồn tại vấn nạn bạo hành gia đình. Nếu các quốc gia khác không có các quy định cụ thể về bạo hành gia đình thì ở Mỹ lại có quy định rất nghiêm để xử lý hành vi này, mức xử phạt thậm chí còn cao hơn cả trộm cướp. Theo đó, nếu một cặp vợ chồng ở Mỹ mà cãi nhau hoặc chỉ cần động tay động tay mà bị phát hiện thì sẽ bị xử phạt theo pháp luật.

https://preview.redd.it/uelcyopa2wb41.jpg?width=768&format=pjpg&auto=webp&s=208537fa1fc663ec7edece4fb2463ab36fa927fe
Trong “Luật bảo hộ người bị hại trong bạo lực gia đình” của California có quy định: với những nghi phạm có liên quan đến bạo lực gia đình, sở cảnh sát không thể quyết định bãi miễn họ có được thả hay không mà sẽ phải chuyển cho tòa án để xử lý.
Trong trường hợp hai vợ chồng cãi nhau mà hàng xóm phát hiện và báo cảnh sát, nếu trên người phụ nữ có thương tích, người đàn ông sẽ ngay lập tức bị dẫn đi. Điều đó, cho thế bộ luật ra đời nhằm bảo vệ quyền lợi tối đa cho người phụ nữ.
  1. Cha mẹ không được phép đánh con cái
Mặc dù cha mẹ là người sinh ra con cái nhưng theo luật pháp tại Mỹ, cha mẹ không được phép đánh con cái kể cả là để dạy dỗ hay chỉ bảo trẻ. Nếu bố mẹ đánh con cái mà bị trình báo hoặc phát hiện thì sẽ nhận các hình phạt theo quy định của pháp luật từ phê bình, tước đoạt quyền giám hộ trẻ cho tới ngồi tủ.
  1. Tuân thủ tuyệt đối luật an toàn giao thông
Ở Mỹ có rất nhiều xe hơi. Khác xa với những cảnh vượt đuổi đầy tốc độ trên phim ảnh, người Mỹ rất tuân thủ luật an toàn giao thông. Trong 50 bang của Mỹ có 19 bang quy định nghiêm cấm gửi tin nhắn điện thoại khi đang lái xe, 6 bang nghiêm cấm một tay lái xe, một tay gọi điện thoại. Trên các tuyến đường chính của Mỹ đều được gắn camera giám sát nên chỉ cần vi phạm, bạn sẽ nhận được giấy lãnh phạt gửi về tận nhà.
Người Mỹ rất tuân thủ luật an toàn giao thông
  1. Luật về hút thuốc và sử dụng đồ uống có cồn
Tại một số quốc gia như Mỹ, Canada việc hút thuốc tại nơi công cộng hầu như không được chấp nhận. Hiện nay, tại Mỹ đã có 29 bang có luật cấm hút thuốc trong nhà hàng, 25 bang có luật cấm hút thuốc trong nhà hàng và quán bar. Nếu vi phạm sẽ bị phạt tiền. Đồng thời, Mỹ cũng quy định độ tuổi được phép hút thuốc là trên 18 tuổi. Hãy nhớ đừng quên mang theo giấy tờ chứng minh độ tuổi của mình nếu bạn muốn sử dụng đồ uống có cồn trên đất Mỹ.
  1. Mua hàng không cần nghĩ nhiều: hối hận thì … trả lại
Việc mua sắm ở Mỹ rất thoải mái. Bạn có thể mua bất cứ gì khi thấy thích. Nếu sau đó trở về nhà, bạn nhận ra nó không phù hợp thì bạn hoàn toàn có thể trả lại. Có những gian hàng cho phép người mua trả lại hàng tới 180 ngày.
Mua hàng ở Mỹ bạn có thể thoải mái đổi trả
  1. Hạn chế sử dụng tiền mặt
Bất cứ khi ai ra vào nước Mỹ nếu mang tiền, hoặc bất cứ gì có thể được coi là tiền, ví dụ như ngân phiếu, “money order,” ngoại tệ, tiền lì xì trong bao giấy đỏ…, tương đương hơn 10,000 USD đều phải khai báo tại trạm quan thuế phi trường. Nếu không khai báo, bạn có thể bị tịch thu hoặc bị bắt. Tuy nhiên, nếu khai báo, bạn cũng sẽ gặp vô vàn rắc rối bởi ở Mỹ người dân có thói quen dùng thẻ tín dụng để chi trả bảng giá gửi hàng đi mỹ tại tp hcm từ những thứ nhỏ nhặt nhất.
submitted by victorianga to u/victorianga [link] [comments]

Những điều cần lưu ý để tránh rủi ro khi cho thuê nhà

Những điều cần lưu ý để tránh rủi ro khi cho thuê nhà
Không nên ghi giá thuê bằng ngoại tệ, không nên ghi cộng đồng chung mục đích thuê cũng như số dân cư mang lại sống... Còn nếu không chính bạn sẽ bị thiệt hại.
Quy định mục đích dùng
Đa số các hợp đồng cho thuê nhà nguyên căn Hiện giờ đều có quy định quy định về mục tiêu sử dụng nhà của bên thuê. Song, nhiều người lại không chú tâm quan trọng, chỉ thỏa thuận hợp tác chung công cộng khiến bên dịch vụ cho thuê chưa có được mục tiêu quản lý gia tài của mình.
chẳng hạn, giấy tờ ghi mục đích thuê "để kinh doanh", như thế quá cộng đồng chung. Vì nhiều ngành nghề kinh doanh mà bạn không mong muốn nó ra mắt vào căn nhà mình. Cho nên vì vậy, các bạn có nhu cầu ghi cụ thể, càng liên quan càng tốt để người thuê hiểu không cần chúng ta đã trả tiền thì muốn dùng trong "mục đích kinh doanh" tòa nhà ra sao cũng đã được.
Giới hạn số lượng ở
trong hợp đồng cần chính sách giới hạn số người rất có thể thuộc căn nhà thuê mướn. Còn nếu như không tiếp tục dẫn mang đến không giảm lượng người sử dụng căn nhà làm tăng hao mòn tự nhiên tài sản.
Giao dịch thanh toán Trong thời điểm này pháp luật về nước ngoài hối nghiêm cấm việc thỏa hiệp thuê mướn nhà bằng ngoại hối, kể cả việc ghi giá bằng nước ngoài tệ và quy đổi sang việt nam đồng. Nếu phạm luật tiếp tục dẫn đến hợp đồng bị loại bỏ, thậm chí có khả năng phải trách nhiệm chịu phạt hành chánh riêng với Chính phủ.
https://preview.redd.it/7bwcf3rj2sb41.jpg?width=660&format=pjpg&auto=webp&s=2ae4a7bdc0805d86b84739cc3763f5717ea4b14a
Thu tiền đặt cọc
trên thực tế, bên cho thuê thường thu tiền đăng tin cho thuê nhà miễn phí theo kỳ và thu tiền đầu kỳ, thường là 6 tháng/kỳ. Như thế, mặt cho mướn có tâm lý an tâm cầm đằng cán nên không lo lắng về sự việc triển khai hợp đồng của mặt dịch vụ thuê mướn. Nhưng rắc rối tiếp tục nảy sinh khi tới hạn giao dịch thanh toán nhưng bên thuê không chịu giao dịch thanh toán cũng như cũng không chịu bàn giao lại nhà mang đến mặt cho mướn. Bên thuê mướn buộc phải nhờ đến cơ quan pháp luật.
Vì đây chính là tranh chấp án dân sự, nên những đơn vị pháp luật không có khả năng giải quyết một sớm một chiều mà phải mất thời khắc đôi lúc là khá lâu. Hiện giờ khoản tiền đặt cọc tiếp tục có khả năng giúp bên thuê bù đắp không may trong năm này mâu thuẫn tranh chấp cùng với bên thuê thay vì trông chờ vào khoản bồi thường hoặc đưa ra trả của bên thuê theo kết án của tòa án nhân dân án.
Lập biên bạn dạng chuyển giao liên quan tình trạng ngôi nhà
với những tòa nhà đắt tiền, nội thất bên trong đẳng cấp, việc này là vô cùng trọng điểm. Biên bạn dạng chuyển nhượng bàn giao nhà cùng với nội dung liên quan về hiện trạng căn nhà, vật kết cấu hạ tầng đi kèm để giúp đỡ mặt dịch vụ thuê mướn tạo ra dựng đc chứng cứ để gia công căn cứ xử lý mâu thuẫn tranh chấp khi mặt thuê khiến hư hỏng ngôi nhà hoặc khiến đột phá vật kiến trúc khi chuyển nhượng bàn giao nhà.
trong trường hợp cấp bách, bên thuê có khả năng mời có thêm cơ quan thừa pháp lại nhằm lập vi bằng về sự việc chuyển giao ngôi nhà.
https://imuabanbds.vn/kinh-nghiem-nha-dat/cac-trang-dang-tin-bds-top-6-website-mien-phi-hieu-qua-nhat-32610.html
tìm hiểu thêm quan điểm luật sư
Đối với những giấy tờ cho thuê căn nhà có chất lượng lớn thì đòi hỏi tính ngặt nghèo pháp luật, hạn chế rủi ro càng tốt trong khi những bên chỉ biết tới các thỏa thuận hợp tác mang tính chất cơ bản. Vì thế, trong những trường hợp này mặt cho mướn nên chủ động tham khảo ý kiến của luật sư về nội dung hợp đồng, hoặc là nhờ luật sư soạn thảo hợp đồng. Điều đó giúp có hạn tối đa không may hay chí ít cũng giúp bên cho mướn hiểu cũng như nhìn thấy được những rủi ro.
những loại thuế người thuê mướn nhà phải nộp
hiện pháp luật về nhà sống và kinh doanh thương mại BĐS chưa yêu cầu hộ dân, cá nhân dịch vụ cho thuê căn nhà phải đăng ký thành lập và đi vào hoạt động Công Ty. Nhưng chúng ta phải đăng ký hộ kinh doanh thương mại và kê khai nộp thuế theo chính sách của pháp luật về thuế. Việc kê khai và nộp thuế đầy đủ không chỉ có thực hiện trách nhiệm của công dân mà còn hỗ trợ mặt dịch vụ thuê mướn nhà hạn chế nhiều không may đối với pháp lý từ hành vi trốn thuế.
xuất hiện 3 loại thuế mà người cho mướn ngôi nhà rất có khả năng phải nạp. 1 Là thuế môn bài – đây là dòng thuế phải nạp khi mặt cho mướn căn nhà có mức doanh số từ trên 100 triệu đồng trở lên, từ 100 đến - 300 triệu đồng mức thuế là 300.000 đồng, từ tại 300 cho 500 triệu đồng mức thuế khi là 500.000 đồng, 500 triệu VND mức thuế là 1 triệu VND.
tiếp theo là thuế nguồn thu cá nhân và thuế giá trị gia tăng. Hai loại thuế này cũng chỉ phải nộp nếu người dịch vụ thuê mướn nhà có doanh số từ trên 100 triệu đồng 1 năm với thuế suất mang lại cả 2 sắc thuế này đều là 5% lợi nhuận tính thuế.
submitted by imuabanbds to u/imuabanbds [link] [comments]

Tim hieu ve cong tac ke toan von bang tien

Trong bài viết này, Luận Văn 24 chuyên giá làm luận văn tốt nghiệp xin chia sẻ đến bạn những vấn đề cơ bản về công tác kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp. Nếu bạn có dự định làm đề tài luận văn về chủ đề này, thì đây sẽ là bài viết không thể bỏ qua.
📷
Những vấn đề cơ bản về công tác kế toán vốn bằng tiền

1. Khái niệm, yêu cầu, nhiệm vụ, nguyên tắc và phương pháp hạch toán kế toán vốn bằng tiền

1.1. Khái niệm, nội dung kế toán vốn bằng tiền

Vốn bằng tiền là một bộ phận của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp tồn tại dưới hình thái tiền tệ, có tính thanh khoản cao nhất, bao gồm tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp, tiền gửi tại các ngân hàng, kho bạc Nhà nước và các khoản tiền đang chuyển. Với tính linh hoạt cao – Vốn bằng tiền vừa được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm vật tư hàng hoá để sản xuất, kinh doanh vừa là kết quả của việc mua bán hạch toán thu hồi các khoản nợ chính vì vậy quy mô vốn bằng tiền phản ánh khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp và là một bộ phận của tài sản ngắn hạn.

1.2. Yêu cầu quản lý vốn bằng tiền

Vốn bằng tiền là một loại tài sản đặc biệt, nó là vật ngang giá chung, vì vậy trong quá trình quản lý rất dễ xảy ra tham ô, lãng phí. Do vậy, việc sử dụng vốn bằng tiền cần phải tuân thủ các nguyên tắc, chế độ quản lý chặt chẽ đảm bảo tốt các yêu cầu sau:
– Mọi biến động của vốn bằng tiền phải làm đầy đủ thủ tục và phải có chứng từ gốc hợp lệ.
– Việc sử dụng chi tiêu vốn bằng tiền phải đúng mục đích, đúng chế độ

1.3. Nhiệm vụ của kế toán vốn bằng tiền

Để thực hiện tốt việc quản lý vốn bằng tiền với vai trò công cụ quản lý kinh tế, kế toán cần thực hiện tốt các vấn đề sau:
– Phản ánh kịp thời đầy đủ, chính xác số hiện có và tình hình biến động của vốn bằng tiền
– Giám đốc quản lý chặt chẽ việc tiến hành chế độ thu, chi và quản lý tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, chế độ quản lý ngoại tệ, vàng bạc

1.4. Vai trò của công tác kế toán vốn bằng tiền

Công tác kế toán vốn bằng tiền có vai trò hết sức quan trọng và không thể thiếu trong doanh nghiệp.
Cung cấp thông tin một cách kịp thời, chính xác và kiểm tra các hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Từ đó giúp cho các doanh nghiệp đưa ra các quyết định chính xác phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí tăng lợi nhuận.
Đáp ứng nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp,thực hiện việc mua sắm,chi phí…nhằm đảm bảo cho công tác sản xuất,kinh doanh được liên tục đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp.

1.5. Nguyên tắc kế toán vốn bằng tiền

Hạch toán vốn bằng tiền phải sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất là Đồng Việt Nam, trừ trường hợp được phép sử dụng một đơn vị tiền tệ thông dụng.
Ở những doanh nghiệp có ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt hoặc gửi vào ngân hàng phải quy đổi ra ngoại tệ Đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch (Tỷ giá hối đoái giao dịch thực tế hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh) để ghi sổ kế toán.
Trường hợp mua ngoại tệ về nhập quỹ tiền mặt gửi vào ngân hàng hoặc thanh toán công nợ ngoại tệ bằng Đồng Việt Nam thì được quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá mua hoặc tỷ giá thanh toán. Bên có TK 1112, TK 1122 được quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá trên sổ kế toán TK 1112 hoặc TK 1122 theo một trong các phương pháp: Bình quân gia quyền, nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước, giá thực tế đích danh.
Nhóm tài khoản vốn bằng tiền có nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ phải quy đổi ra ngoại tệ ra Đồng Việt Nam, đồng thời phải hạch toán chi tiết ngoại tệ theo nguyên tệ. Nếu có chênh lệch tỷ giá hối đoái thì phản ánh số chênh lệch này trên các TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính, TK 635 – Chi phí hoạt động tài chính ( Nếu phát sinh trong giai đoạn sản xuất kinh doanh kể cả doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản) hoặc phản ánh vào TK 413 (Nếu phát sinh trong giai đoạn XDCB giai đoạn trước hoạt động). Số dư cuối kỳ các TK vốn bằng tiền có gốc ngoại tệ phải được đánh giá theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam công bố tại thời điểm lập báo cáo tài chính.
Đối với vàng, bạc, kim khí quý, đá quý phải theo dõi số lượng, trọng lượng, quy cách phẩm chất và giá trị của từng thứ, từng loại. Giá trị vàng, bạc, kim khí quý, đá quý được tính theo giá thực tế (Giá hoá đơn hoặc giá được thanh toán) khi tính giá xuất vàng, bạc, kim khí quý, đá quý có thể áp dụng một trong bốn phương pháp tính giá hàng tồn kho.
Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ dịch vụ viết báo cáo thực tập , dịch vụ làm assignment , chạy spss thuê , làm tiểu luận thuê chuyên nghiệp nhất thị trường. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ từ A-Z.

2. Kế toán tiền mặt tại quỹ

2.1. Quy tắc kế toán tiền mặt

Chỉ phản ánh vào TK 111 “Tiền mặt” số tiền mặt, ngoại tệ thực tế nhập, xuất quỹ tiền mặt. Đối với khoản tiền thu được chuyển nộp ngay vào ngân hàng (không qua quỹ tiền mặt của đơn vị) thì không ghi vào bên nợ TK 111 “tiền mặt” mà ghi vào bên nợ TK 113 “tiền đang chuyển”.
Các khoản tiền mặt do doanh nghiệp khác và cá nhân ký cược, ký quỹ tại doanh nghiệp được quản lý và hạch toán như các loại tài sản bằng tiền của đơn vị.
Khi tiến hành nhập, xuất quỹ tiền mặt phải có phiếu thu, phiếu chi và có đủ chữ ký của người nhận, người giao, người cho phép nhập xuất quỹ theo quy định của chế độ chứng từ kế toán. Một số trường hợp đặc biệt phải có lệnh nhập quỹ, xuất quỹ đính kèm.
Kế toán quỹ tiền mặt phải có trách nhiệm mở sổ kế toán quỹ tiền mặt, ghi chép hàng ngày liên tục theo trình tự phát sinh các khoản thu, chi, xuất quỹ tiền mặt ngoại tệ và tính ra số tồn quỹ tại mọi thời điểm.
Thủ quỹ chịu trách nhiệm quản lý và nhập, xuất quỹ tiền mặt. Hàng ngày thủ quỹ phải kiểm kê số tồn quỹ tiền mặt thực tế, đối chiếu số liệu sổ quỹ tiền mặt và sổ kế toán tiền mặt. Nếu có chênh lệch, kế toán và thủ quỹ phải kiểm tra lại để xác định nguyên nhân và kiến nghị biện pháp xử lý chênh lệch.
Ở những doanh nghiệp có ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt, gửi vào ngân hàng hoặc thanh toán công nợ ngoại tệ bằng Đồng Việt Nam thì được quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá mua hoặc tỷ giá thanh toán. Bên có các TK 1112, TK1122 được quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá trên sổ kế toán TK 1112 hoặc TK 1122 theo một trong các phương pháp: Bình quân gia quyền, nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước, giá thực tế đích danh (như một loại hàng hoá đặc biệt)
Đối với vàng, bạc, kim khí quý, đá quý phản ánh ở tài khoản tiền mặt chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp không đăng ký kinh doanh vàng, bạc, kim khí quý, đá quý nhập quỹ tiền mặt thì việc xuất, nhập được hạch toán như các loại hàng tồn kho (nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước, giá bình quân gia quyền hay giá thực tế từng lần nhập), khi sử dụng để thanh toán chi trả được hạch toán như ngoại tệ.
#LV24 , #luan_van_24 , #luận_văn_24 , #dịch_vụ_chỉnh_sửa_luận_văn , #làm_chuyên_đề_tốt_nghiệp , #giá_làm_luận_văn_tốt_nghiệp
Xem thêm: https://luanvan24.com/tim-hieu-ve-cong-tac-ke-toan-von-bang-tien-trong-doanh-nghiep/
submitted by luanvan24 to u/luanvan24 [link] [comments]

Khai niem phan loai vai tro va cong thuc tinh lai suat tai Luan van 24

Trong bài viết này, Luận Văn 24 chuyên giá làm luận văn thuê xin chia sẻ đến bạn đọc khái niệm lãi suất, phân loại lãi suất, vai trò của lãi suất và các công thức tính lãi suất chi tiết nhất.
📷
Khái niệm, phân loại, vai trò và công thức tính lãi suất

1. Khái niệm lãi suất

Lãi suất (interest rate) là tỷ lệ phần trăm giữa tiền lãi ( hay chi phí phải trả) trên một số lượng tiền nhất định để được sở hữu và sử dụng khoản tiền ấy trong một khoảng thời gian đã được thoả thuận trước.
Hay lãi suất chính là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong 1 khoảng thời gian mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó.
Hay nó chính là khoản chênh lệch giữa lượng tiền nhận được hôm nay và lượng tiền tổng cộng phải trả trong tương lai chính là tiền lãi hay chi phí để có khoản tiền ấy trong một khoảng thời gian. Khi đem tiền lãi ấy tính tỷ lệ với tiền nhận được đó chính là lãi suất trong thời gian nói trên. Hiểu theo cách nào cũng đúng song tại sao phải trả lãi suất?
Bởi lẽ đồng tiền ngày hôm nay có giá trị nhận được vào ngày khi tính đến giá trị thời gian của tiền tệ. Khi người cho vay chuyển quyền sử dụng vốn cho người khác nghĩa là anh ta hy sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mình với hy vọng sẽ có 1 khoản tiền lớn hơn vào ngày hôm sau, hôm sau nữa. Sẽ không có sự chuyển nhượng vốn nếu không có phần lớn hơn đó hoặc là nó không đủ bù đắp cho giá trị thời gian của tiền tệ.

2. Phân loại lãi suất

Có rất nhiều cách để phân loại lãi suất: căn cứ vào thời hạn tín dụng, căn cứ vào giá trị thực của lãi suất, vào mức ổn định hay phương pháp tính lãi suất.
Căn cứ vào loại hình tín dụng:
Lãi suất tín dụng thương mại: áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá. Nó được tính như sau:
Lãi suất tín dụng thương mại=100%* [(giá cả hàng hoá bán chịu – giá cả hàng hoá bán trả tiền ngay)/ giá cả hàng hoá bán chịu]
Loại lãi suất này được tính bao hàm trong tổng giá cả hàng hoá bán chịu.
Lãi suất tín dụng ngân hàng: áp dụng trong quan hệ giữa ngân hàng với công chúng và doanh nghiệp trong việc thu hút tiền gửi và cho vay, trong hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương cho các ngân hàng, trong quan hệ giữa các ngân hàng với nhau trên thị trường liên ngân hàng.
Căn cứ vào loại hình tín dụng
Lãi suất chia thành hai loại:
Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi suất danh nghĩa thường được thông báo chính thức trong các quan hệ tín dụng.
Lãi suất thực tế: là loại lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát. Hay nói cách khác là lãi suất đã trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi suất thực có hai loại:
+ Lãi suất thực tính trước là lãi suất thực được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi dự tính về lạm phát.
+ Lãi suất thực tính sau là lãi suất thực được chỉnh lại cho đúng những thay đổi trên thực tế về lạm phát.
Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực và lạm phát được Irving Fisher nêu thành phương trình sau:
Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát
Căn cứ vào mức độ ổn định của lãi suất: lãi suất chia thành hai loại:
Lãi suất cố định: là lãi suất được áp dụng cố định trong suốt thời hạn vay. Nó có ưu điểm: người gửi tiền và người vay tiền biết trước tiền lãi được trả và phải trả. Bên cạnh đó có nhược điểm: bị ràng buộc bởi một mức lãi suất nhất định trong một thời gian nào đó các tổ chức cung ứng tín dụng và người vay tiền khó có khả năng phản ứng linh hoạt với những biến động nếu có của cung và cầu vốn trên thị trường tài chính.
Lãi suất thả nổi: là lãi suất có thể thay đổi phù hợp với lãi suất thị trường và có thể báo trước hoặc không báo trước. Mặc dù khi áp dụng cơ chế lãi suất này, cả người đi vay và người cho vay xác định một cách chính xác mức lãi suất sẽ phải trả nhưng nó thích hợp với một môi trường đầu tư không ổn định và các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất là khó dự đoán.
Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ dịch vụ viết báo cáo thực tập , dịch vụ làm assignment , chạy spss thuê , làm tiểu luận thuê chuyên nghiệp nhất thị trường. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ từ A-Z.

3. Vai trò của lãi suất

Lãi suất là một biến số thường xuyên biến động trong nền kinh tế và được theo dõi một cách chặt chẽ nhất trong nền kinh tế vĩ mô vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp, tổng thể nền kinh tế, tác động cả ở tầm vi mô và vĩ mô.
Vai trò của lãi suất đối với quyết định của các chủ thể trong nền kinh tế.
Đối với cá nhân, hộ gia đình: lãi suất ảnh hưởng nhiều đến quyết định như chi tiêu hay để dành, mua nhà mua trái phiếu hay gửi vốn vào một tài khoản tiết kiệm. Đối với cá nhân hay hộ gia đình khi lãi suất của tiền gửi tiết kiệm tăng họ sẽ lựa chọn gửi tiền vào ngân hàng hơn là mua các giấy tờ có giá bởi khi đó giá của chúng sẽ giảm. Ngược lại khi lãi suất giảm họ sẽ đầu tư vào các khoản mục đầu tư khác và sẽ cân nhắc khả năng gửi tiền vào ngân hàng vì lãi suất thấp hơn lợi nhuận nhận được từ những hình thức đầu tư khác.
Đối với các doanh nghiệp: lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Lãi suất có thể coi là chi phí của doanh nghiệp. Khi lãi suất thấp có nghĩa là chi phí của vốn đầu tư thấp, điều đó sẽ khuyến khích doanh nghiệp mở rộng đầu tư. Bớt một đồng chi phí là tăng một đồng lợi nhuận vì thế họ sẽ tìm cách tối đa hoá lợi nhuận trên một đồng chi phí. Có thể nói rằng lãi suất đóng vai trò là công cụ bắt buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn một cách triệt để, có hiệu quả.
Đối với Nhà nước: lãi suất không chỉ là một công cụ nhằm huy động hay cho vay vốn mà còn là công cụ quản lý vĩ mô quan trọng nhằm điều tiết sản xuất kinh doanh theo đúng hướng, xử lý hài hoà giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ, điều hành gián tiếp chính sách tiền tệ quốc gia để thực hiện các mục tiêu của mình: ổn định giá cả đồng nội tệ, tăng trưởng kinh tế ở tốc độ cao (trên 7%) và công ăn việc làm đầy đủ.
Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường
Lãi suất tín dụng là phương tiện kích thích lợi ích vật chất để thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế.
Lãi suất là một loại giá cả đặc biệt của việc buôn bán vốn tiền tệ, do đó nó cũng tuân thủ qui luật cung cầu thị trường. Muốn thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế, ngoài việc phục vụ tốt còn đòi hỏi giá cả(lãi suất) hợp lý và hấp dẫn. Đối với ngân hàng, lãi suất huy động tiền gửi cao sẽ kích thích lòng ham muốn lợi nhuận của khách hàng đối với ngân hàng. Do đó nếu ngân hàng muốn tăng cường huy động vốn có thể bằng nhiều biện pháp trong đó có công cụ lãi suất.
Lãi suất tín dụng là công cụ kích thích đầu tư phát triển.
Với lãi suất cho vay hợp lý sẽ kích thích các nhà đầu tư vay vốn mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh, tạo nhiều sản phẩm cho xã hội, tăng thu nhập quốc dân, từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế ngày càng phát triển
Lãi suất tín dụng là đòn bẩy kích thích ngân hàng và các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, thực sự quan tâm đến kết quả sản xuất kinh doanh để đảm bảo hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi. Đối với các ngân hàng, hoạt động chủ yếu là huy động để cho vay. Do đó ngân hàng phải tìm nhiều biện pháp thiết thực để thu hút mọi nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, thực hiện các biện pháp cho vay có hiệu quả, sao cho đáp ứng được các yêu cầu hạch toán kinh tế.
Lãi suất là một trong những công cụ đánh giá “sức khoẻ” của nền kinh tế.
Căn cứ vào biến động của lãi suất hoặc tình hình lãi suất trong một thời kì có thể dự báo được một số yếu tố của nền kinh tế: các cơ hội đầu tư, tình hình tiền tệ, tình hình kinh tế trong tương lai…Từ đó các ngân hàng hoặc doanh nghiệp có điều kiện để chuẩn bị và lựa chọn các phương án kinh doanh cho phù hợp.
Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Hiện nay nước ta đang trong thời kỳ quá độ, trong những giai đoạn xây dựng những cơ sở vật chất để đi lên Chủ nghĩa Xã hội. Chiến lược nhiệm vụ trong toàn thời kỳ này của đất nước ta là: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vậy để có thẻ tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở rộng sản xuất thì vấn đề không thể thiếu được là vốn. Trong đại hội VIII của Đảng đã đề ra rằng: vấn đề tích luỹ và sử dụng vốn để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá có tầm quan trọng đặc biệt cả về phương pháp nhận thức và chỉ đạo thực tiễn. Vì vậy cơ chế lãi suất có vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tập trung các nguồn vốn manh mún, tản mạn thành các nguồn vốn lớn đáp ứng các nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp tạo điều kiện cho việc tái sản xuất, mở rộng sản xuất một cách liên tục, phát triển kinh tế.
Lãi suất với quá trình đầu tư.
Quá trình đầu tư của các doanh nghiệp vào tài sản cố định (máy móc, công trường, nguyên vật liệu) chỉ được thực hiện khi họ dự tính lợi nhuận thu được từ vốn đầu tư vào các tài sản cố định này lớn hơn số lãi phải trả cho các khoản đi vay để đầu tư. Do đó khi lãi suất thấp các doanh nghiệp có điều kiện tiến hành vay vốn đầu tư vào các tài sản cố định phục vụ sản xuất. Vì thế chi tiêu đầu tư có kế hoạch sẽ cao hơn và ngược lại.
Quan hệ lãi suất và chi tiêu đầu tư có kế hoạch
Sự dốc xuống của đường đầu tư phản ánh tỷ lệ nghịch giữa chi tiêu đầu tư có kế hoạch với lãi suất.
Đường đầu tư càng thoải thì càng nhạy cảm với lãi suất.
Lãi suất thấp sẽ khuyến khích đầu tư, khuyến khích tiêu dùng, làm tăng tổng cầu dẫn đến sản lượng tăng giá cả tăng, thất nghiệp giảm, nội tệ có xu hướng giảm giá so với ngoại tệ.
Ngược lại lãi suất cao sẽ hạn chế đầu tư, hạn chế tiêu dùng do đó làm giảm tổng cầu, khiến sản lượng giảm, giá giảm, thất nghiệp tăng, nội tệ có xu hướng tăng giá so với ngoại tệ.
Như vậy lãi suất là công cụ đo lường tình trạng sức khoẻ của nền kinh tế. Người ta thấy rằng: trong giai đoạn đang phát triển của nền kinh tế, lãi suất có xu hướng phát triển do cung cầu cho vay đều phát triển, trong đó tốc độ phát triển quỹ cho vay lớn hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay. Ngược lại trong nền kinh tế bị đình trệ, hàng hoá bị ứ đọng và xuống giá, cơ hội đầu tư kiếm lời giảm xuống, áp lực lạm phát hay thiểu phát, lãi suất sẽ giảm bởi nguyên tắc cơ bản lãi suất phải nhỏ hơn lợi nhuận đầu tư.
Lãi suất với xuất nhập khẩu: khi lãi suất trong nước thực tế tăng thì các khoản tiêu dùng bằng đồng nội tệ sẽ trở nên thấp hơn so với các khoản tiêu dùng bằng quỹ ngoại tệ. Do đó làm cho giá trị đồng nội tệ tăng lên so với các đồng khác nghĩa là tỷ giá hối đoái tăng. Lúc này hàng hoá trong nước tại nước ngoài đắt hơn, hàng hoá nước ngoài ở trong nước sẽ rẻ hơn dẫn đến giảm xuất khẩu ròng, khuyến khích nhập khẩu.
#LV24 , #luan_van_24 , #luận_văn_24 , #dịch_vụ_chỉnh_sửa_luận_văn , #làm_đồ_án_thuê , #làm_chuyên_đề_tốt_nghiệp , #giá_làm_luận_văn_tốt_nghiệp
Xem thêm: https://luanvan24.com/khai-niem-phan-loai-vai-tro-va-cong-thuc-tinh-lai-suat/
submitted by dangthutra24 to u/dangthutra24 [link] [comments]

Khai niem phan loai vai tro va cong thuc tinh lai suat tai Luan van 24

Trong bài viết này, Luận Văn 24 chuyên giá làm luận văn thuê xin chia sẻ đến bạn đọc khái niệm lãi suất, phân loại lãi suất, vai trò của lãi suất và các công thức tính lãi suất chi tiết nhất.
📷
Khái niệm, phân loại, vai trò và công thức tính lãi suất

1. Khái niệm lãi suất

Lãi suất (interest rate) là tỷ lệ phần trăm giữa tiền lãi ( hay chi phí phải trả) trên một số lượng tiền nhất định để được sở hữu và sử dụng khoản tiền ấy trong một khoảng thời gian đã được thoả thuận trước.
Hay lãi suất chính là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong 1 khoảng thời gian mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó.
Hay nó chính là khoản chênh lệch giữa lượng tiền nhận được hôm nay và lượng tiền tổng cộng phải trả trong tương lai chính là tiền lãi hay chi phí để có khoản tiền ấy trong một khoảng thời gian. Khi đem tiền lãi ấy tính tỷ lệ với tiền nhận được đó chính là lãi suất trong thời gian nói trên. Hiểu theo cách nào cũng đúng song tại sao phải trả lãi suất?
Bởi lẽ đồng tiền ngày hôm nay có giá trị nhận được vào ngày khi tính đến giá trị thời gian của tiền tệ. Khi người cho vay chuyển quyền sử dụng vốn cho người khác nghĩa là anh ta hy sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mình với hy vọng sẽ có 1 khoản tiền lớn hơn vào ngày hôm sau, hôm sau nữa. Sẽ không có sự chuyển nhượng vốn nếu không có phần lớn hơn đó hoặc là nó không đủ bù đắp cho giá trị thời gian của tiền tệ.

2. Phân loại lãi suất

Có rất nhiều cách để phân loại lãi suất: căn cứ vào thời hạn tín dụng, căn cứ vào giá trị thực của lãi suất, vào mức ổn định hay phương pháp tính lãi suất.
Căn cứ vào loại hình tín dụng:
Lãi suất tín dụng thương mại: áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá. Nó được tính như sau:
Lãi suất tín dụng thương mại=100%* [(giá cả hàng hoá bán chịu – giá cả hàng hoá bán trả tiền ngay)/ giá cả hàng hoá bán chịu]
Loại lãi suất này được tính bao hàm trong tổng giá cả hàng hoá bán chịu.
Lãi suất tín dụng ngân hàng: áp dụng trong quan hệ giữa ngân hàng với công chúng và doanh nghiệp trong việc thu hút tiền gửi và cho vay, trong hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương cho các ngân hàng, trong quan hệ giữa các ngân hàng với nhau trên thị trường liên ngân hàng.
Căn cứ vào loại hình tín dụng
Lãi suất chia thành hai loại:
Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi suất danh nghĩa thường được thông báo chính thức trong các quan hệ tín dụng.
Lãi suất thực tế: là loại lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát. Hay nói cách khác là lãi suất đã trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi suất thực có hai loại:
+ Lãi suất thực tính trước là lãi suất thực được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi dự tính về lạm phát.
+ Lãi suất thực tính sau là lãi suất thực được chỉnh lại cho đúng những thay đổi trên thực tế về lạm phát.
Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực và lạm phát được Irving Fisher nêu thành phương trình sau:
Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát
Căn cứ vào mức độ ổn định của lãi suất: lãi suất chia thành hai loại:
Lãi suất cố định: là lãi suất được áp dụng cố định trong suốt thời hạn vay. Nó có ưu điểm: người gửi tiền và người vay tiền biết trước tiền lãi được trả và phải trả. Bên cạnh đó có nhược điểm: bị ràng buộc bởi một mức lãi suất nhất định trong một thời gian nào đó các tổ chức cung ứng tín dụng và người vay tiền khó có khả năng phản ứng linh hoạt với những biến động nếu có của cung và cầu vốn trên thị trường tài chính.
Lãi suất thả nổi: là lãi suất có thể thay đổi phù hợp với lãi suất thị trường và có thể báo trước hoặc không báo trước. Mặc dù khi áp dụng cơ chế lãi suất này, cả người đi vay và người cho vay xác định một cách chính xác mức lãi suất sẽ phải trả nhưng nó thích hợp với một môi trường đầu tư không ổn định và các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất là khó dự đoán.
Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ dịch vụ viết báo cáo thực tập , dịch vụ làm assignment , chạy spss thuê , làm tiểu luận thuê chuyên nghiệp nhất thị trường. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ từ A-Z.

3. Vai trò của lãi suất

Lãi suất là một biến số thường xuyên biến động trong nền kinh tế và được theo dõi một cách chặt chẽ nhất trong nền kinh tế vĩ mô vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp, tổng thể nền kinh tế, tác động cả ở tầm vi mô và vĩ mô.
Vai trò của lãi suất đối với quyết định của các chủ thể trong nền kinh tế.
Đối với cá nhân, hộ gia đình: lãi suất ảnh hưởng nhiều đến quyết định như chi tiêu hay để dành, mua nhà mua trái phiếu hay gửi vốn vào một tài khoản tiết kiệm. Đối với cá nhân hay hộ gia đình khi lãi suất của tiền gửi tiết kiệm tăng họ sẽ lựa chọn gửi tiền vào ngân hàng hơn là mua các giấy tờ có giá bởi khi đó giá của chúng sẽ giảm. Ngược lại khi lãi suất giảm họ sẽ đầu tư vào các khoản mục đầu tư khác và sẽ cân nhắc khả năng gửi tiền vào ngân hàng vì lãi suất thấp hơn lợi nhuận nhận được từ những hình thức đầu tư khác.
Đối với các doanh nghiệp: lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Lãi suất có thể coi là chi phí của doanh nghiệp. Khi lãi suất thấp có nghĩa là chi phí của vốn đầu tư thấp, điều đó sẽ khuyến khích doanh nghiệp mở rộng đầu tư. Bớt một đồng chi phí là tăng một đồng lợi nhuận vì thế họ sẽ tìm cách tối đa hoá lợi nhuận trên một đồng chi phí. Có thể nói rằng lãi suất đóng vai trò là công cụ bắt buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn một cách triệt để, có hiệu quả.
Đối với Nhà nước: lãi suất không chỉ là một công cụ nhằm huy động hay cho vay vốn mà còn là công cụ quản lý vĩ mô quan trọng nhằm điều tiết sản xuất kinh doanh theo đúng hướng, xử lý hài hoà giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ, điều hành gián tiếp chính sách tiền tệ quốc gia để thực hiện các mục tiêu của mình: ổn định giá cả đồng nội tệ, tăng trưởng kinh tế ở tốc độ cao (trên 7%) và công ăn việc làm đầy đủ.
Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trường
Lãi suất tín dụng là phương tiện kích thích lợi ích vật chất để thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế.
Lãi suất là một loại giá cả đặc biệt của việc buôn bán vốn tiền tệ, do đó nó cũng tuân thủ qui luật cung cầu thị trường. Muốn thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế, ngoài việc phục vụ tốt còn đòi hỏi giá cả(lãi suất) hợp lý và hấp dẫn. Đối với ngân hàng, lãi suất huy động tiền gửi cao sẽ kích thích lòng ham muốn lợi nhuận của khách hàng đối với ngân hàng. Do đó nếu ngân hàng muốn tăng cường huy động vốn có thể bằng nhiều biện pháp trong đó có công cụ lãi suất.
Lãi suất tín dụng là công cụ kích thích đầu tư phát triển.
Với lãi suất cho vay hợp lý sẽ kích thích các nhà đầu tư vay vốn mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh, tạo nhiều sản phẩm cho xã hội, tăng thu nhập quốc dân, từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế ngày càng phát triển
Lãi suất tín dụng là đòn bẩy kích thích ngân hàng và các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, thực sự quan tâm đến kết quả sản xuất kinh doanh để đảm bảo hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi. Đối với các ngân hàng, hoạt động chủ yếu là huy động để cho vay. Do đó ngân hàng phải tìm nhiều biện pháp thiết thực để thu hút mọi nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, thực hiện các biện pháp cho vay có hiệu quả, sao cho đáp ứng được các yêu cầu hạch toán kinh tế.
Lãi suất là một trong những công cụ đánh giá “sức khoẻ” của nền kinh tế.
Căn cứ vào biến động của lãi suất hoặc tình hình lãi suất trong một thời kì có thể dự báo được một số yếu tố của nền kinh tế: các cơ hội đầu tư, tình hình tiền tệ, tình hình kinh tế trong tương lai…Từ đó các ngân hàng hoặc doanh nghiệp có điều kiện để chuẩn bị và lựa chọn các phương án kinh doanh cho phù hợp.
Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Hiện nay nước ta đang trong thời kỳ quá độ, trong những giai đoạn xây dựng những cơ sở vật chất để đi lên Chủ nghĩa Xã hội. Chiến lược nhiệm vụ trong toàn thời kỳ này của đất nước ta là: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vậy để có thẻ tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở rộng sản xuất thì vấn đề không thể thiếu được là vốn. Trong đại hội VIII của Đảng đã đề ra rằng: vấn đề tích luỹ và sử dụng vốn để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá có tầm quan trọng đặc biệt cả về phương pháp nhận thức và chỉ đạo thực tiễn. Vì vậy cơ chế lãi suất có vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tập trung các nguồn vốn manh mún, tản mạn thành các nguồn vốn lớn đáp ứng các nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp tạo điều kiện cho việc tái sản xuất, mở rộng sản xuất một cách liên tục, phát triển kinh tế.
Lãi suất với quá trình đầu tư.
Quá trình đầu tư của các doanh nghiệp vào tài sản cố định (máy móc, công trường, nguyên vật liệu) chỉ được thực hiện khi họ dự tính lợi nhuận thu được từ vốn đầu tư vào các tài sản cố định này lớn hơn số lãi phải trả cho các khoản đi vay để đầu tư. Do đó khi lãi suất thấp các doanh nghiệp có điều kiện tiến hành vay vốn đầu tư vào các tài sản cố định phục vụ sản xuất. Vì thế chi tiêu đầu tư có kế hoạch sẽ cao hơn và ngược lại.
Quan hệ lãi suất và chi tiêu đầu tư có kế hoạch
Sự dốc xuống của đường đầu tư phản ánh tỷ lệ nghịch giữa chi tiêu đầu tư có kế hoạch với lãi suất.
Đường đầu tư càng thoải thì càng nhạy cảm với lãi suất.
Lãi suất thấp sẽ khuyến khích đầu tư, khuyến khích tiêu dùng, làm tăng tổng cầu dẫn đến sản lượng tăng giá cả tăng, thất nghiệp giảm, nội tệ có xu hướng giảm giá so với ngoại tệ.
Ngược lại lãi suất cao sẽ hạn chế đầu tư, hạn chế tiêu dùng do đó làm giảm tổng cầu, khiến sản lượng giảm, giá giảm, thất nghiệp tăng, nội tệ có xu hướng tăng giá so với ngoại tệ.
Như vậy lãi suất là công cụ đo lường tình trạng sức khoẻ của nền kinh tế. Người ta thấy rằng: trong giai đoạn đang phát triển của nền kinh tế, lãi suất có xu hướng phát triển do cung cầu cho vay đều phát triển, trong đó tốc độ phát triển quỹ cho vay lớn hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay. Ngược lại trong nền kinh tế bị đình trệ, hàng hoá bị ứ đọng và xuống giá, cơ hội đầu tư kiếm lời giảm xuống, áp lực lạm phát hay thiểu phát, lãi suất sẽ giảm bởi nguyên tắc cơ bản lãi suất phải nhỏ hơn lợi nhuận đầu tư.
Lãi suất với xuất nhập khẩu: khi lãi suất trong nước thực tế tăng thì các khoản tiêu dùng bằng đồng nội tệ sẽ trở nên thấp hơn so với các khoản tiêu dùng bằng quỹ ngoại tệ. Do đó làm cho giá trị đồng nội tệ tăng lên so với các đồng khác nghĩa là tỷ giá hối đoái tăng. Lúc này hàng hoá trong nước tại nước ngoài đắt hơn, hàng hoá nước ngoài ở trong nước sẽ rẻ hơn dẫn đến giảm xuất khẩu ròng, khuyến khích nhập khẩu.
#LV24 , #luan_van_24 , #luận_văn_24 , #dịch_vụ_chỉnh_sửa_luận_văn , #làm_đồ_án_thuê , #làm_chuyên_đề_tốt_nghiệp , #giá_làm_luận_văn_tốt_nghiệp
Xem thêm: https://luanvan24.com/khai-niem-phan-loai-vai-tro-va-cong-thuc-tinh-lai-suat/
submitted by luanvan24 to u/luanvan24 [link] [comments]

Tim hieu ve cong tac ke toan von bang tien

Trong bài viết này, Luận Văn 24 chuyên giá làm luận văn tốt nghiệp xin chia sẻ đến bạn những vấn đề cơ bản về công tác kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp. Nếu bạn có dự định làm đề tài luận văn về chủ đề này, thì đây sẽ là bài viết không thể bỏ qua.
📷
Những vấn đề cơ bản về công tác kế toán vốn bằng tiền

1. Khái niệm, yêu cầu, nhiệm vụ, nguyên tắc và phương pháp hạch toán kế toán vốn bằng tiền

1.1. Khái niệm, nội dung kế toán vốn bằng tiền

Vốn bằng tiền là một bộ phận của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp tồn tại dưới hình thái tiền tệ, có tính thanh khoản cao nhất, bao gồm tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp, tiền gửi tại các ngân hàng, kho bạc Nhà nước và các khoản tiền đang chuyển. Với tính linh hoạt cao – Vốn bằng tiền vừa được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm vật tư hàng hoá để sản xuất, kinh doanh vừa là kết quả của việc mua bán hạch toán thu hồi các khoản nợ chính vì vậy quy mô vốn bằng tiền phản ánh khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp và là một bộ phận của tài sản ngắn hạn.

1.2. Yêu cầu quản lý vốn bằng tiền

Vốn bằng tiền là một loại tài sản đặc biệt, nó là vật ngang giá chung, vì vậy trong quá trình quản lý rất dễ xảy ra tham ô, lãng phí. Do vậy, việc sử dụng vốn bằng tiền cần phải tuân thủ các nguyên tắc, chế độ quản lý chặt chẽ đảm bảo tốt các yêu cầu sau:
– Mọi biến động của vốn bằng tiền phải làm đầy đủ thủ tục và phải có chứng từ gốc hợp lệ.
– Việc sử dụng chi tiêu vốn bằng tiền phải đúng mục đích, đúng chế độ

1.3. Nhiệm vụ của kế toán vốn bằng tiền

Để thực hiện tốt việc quản lý vốn bằng tiền với vai trò công cụ quản lý kinh tế, kế toán cần thực hiện tốt các vấn đề sau:
– Phản ánh kịp thời đầy đủ, chính xác số hiện có và tình hình biến động của vốn bằng tiền
– Giám đốc quản lý chặt chẽ việc tiến hành chế độ thu, chi và quản lý tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, chế độ quản lý ngoại tệ, vàng bạc

1.4. Vai trò của công tác kế toán vốn bằng tiền

Công tác kế toán vốn bằng tiền có vai trò hết sức quan trọng và không thể thiếu trong doanh nghiệp.
Cung cấp thông tin một cách kịp thời, chính xác và kiểm tra các hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Từ đó giúp cho các doanh nghiệp đưa ra các quyết định chính xác phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí tăng lợi nhuận.
Đáp ứng nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp,thực hiện việc mua sắm,chi phí…nhằm đảm bảo cho công tác sản xuất,kinh doanh được liên tục đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp.

1.5. Nguyên tắc kế toán vốn bằng tiền

Hạch toán vốn bằng tiền phải sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất là Đồng Việt Nam, trừ trường hợp được phép sử dụng một đơn vị tiền tệ thông dụng.
Ở những doanh nghiệp có ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt hoặc gửi vào ngân hàng phải quy đổi ra ngoại tệ Đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch (Tỷ giá hối đoái giao dịch thực tế hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh) để ghi sổ kế toán.
Trường hợp mua ngoại tệ về nhập quỹ tiền mặt gửi vào ngân hàng hoặc thanh toán công nợ ngoại tệ bằng Đồng Việt Nam thì được quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá mua hoặc tỷ giá thanh toán. Bên có TK 1112, TK 1122 được quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá trên sổ kế toán TK 1112 hoặc TK 1122 theo một trong các phương pháp: Bình quân gia quyền, nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước, giá thực tế đích danh.
Nhóm tài khoản vốn bằng tiền có nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ phải quy đổi ra ngoại tệ ra Đồng Việt Nam, đồng thời phải hạch toán chi tiết ngoại tệ theo nguyên tệ. Nếu có chênh lệch tỷ giá hối đoái thì phản ánh số chênh lệch này trên các TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính, TK 635 – Chi phí hoạt động tài chính ( Nếu phát sinh trong giai đoạn sản xuất kinh doanh kể cả doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản) hoặc phản ánh vào TK 413 (Nếu phát sinh trong giai đoạn XDCB giai đoạn trước hoạt động). Số dư cuối kỳ các TK vốn bằng tiền có gốc ngoại tệ phải được đánh giá theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam công bố tại thời điểm lập báo cáo tài chính.
Đối với vàng, bạc, kim khí quý, đá quý phải theo dõi số lượng, trọng lượng, quy cách phẩm chất và giá trị của từng thứ, từng loại. Giá trị vàng, bạc, kim khí quý, đá quý được tính theo giá thực tế (Giá hoá đơn hoặc giá được thanh toán) khi tính giá xuất vàng, bạc, kim khí quý, đá quý có thể áp dụng một trong bốn phương pháp tính giá hàng tồn kho.
Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ dịch vụ viết báo cáo thực tập , dịch vụ làm assignment , chạy spss thuê , làm tiểu luận thuê chuyên nghiệp nhất thị trường. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ từ A-Z.

2. Kế toán tiền mặt tại quỹ

2.1. Quy tắc kế toán tiền mặt

Chỉ phản ánh vào TK 111 “Tiền mặt” số tiền mặt, ngoại tệ thực tế nhập, xuất quỹ tiền mặt. Đối với khoản tiền thu được chuyển nộp ngay vào ngân hàng (không qua quỹ tiền mặt của đơn vị) thì không ghi vào bên nợ TK 111 “tiền mặt” mà ghi vào bên nợ TK 113 “tiền đang chuyển”.
Các khoản tiền mặt do doanh nghiệp khác và cá nhân ký cược, ký quỹ tại doanh nghiệp được quản lý và hạch toán như các loại tài sản bằng tiền của đơn vị.
Khi tiến hành nhập, xuất quỹ tiền mặt phải có phiếu thu, phiếu chi và có đủ chữ ký của người nhận, người giao, người cho phép nhập xuất quỹ theo quy định của chế độ chứng từ kế toán. Một số trường hợp đặc biệt phải có lệnh nhập quỹ, xuất quỹ đính kèm.
Kế toán quỹ tiền mặt phải có trách nhiệm mở sổ kế toán quỹ tiền mặt, ghi chép hàng ngày liên tục theo trình tự phát sinh các khoản thu, chi, xuất quỹ tiền mặt ngoại tệ và tính ra số tồn quỹ tại mọi thời điểm.
Thủ quỹ chịu trách nhiệm quản lý và nhập, xuất quỹ tiền mặt. Hàng ngày thủ quỹ phải kiểm kê số tồn quỹ tiền mặt thực tế, đối chiếu số liệu sổ quỹ tiền mặt và sổ kế toán tiền mặt. Nếu có chênh lệch, kế toán và thủ quỹ phải kiểm tra lại để xác định nguyên nhân và kiến nghị biện pháp xử lý chênh lệch.
Ở những doanh nghiệp có ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt, gửi vào ngân hàng hoặc thanh toán công nợ ngoại tệ bằng Đồng Việt Nam thì được quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá mua hoặc tỷ giá thanh toán. Bên có các TK 1112, TK1122 được quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá trên sổ kế toán TK 1112 hoặc TK 1122 theo một trong các phương pháp: Bình quân gia quyền, nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước, giá thực tế đích danh (như một loại hàng hoá đặc biệt)
Đối với vàng, bạc, kim khí quý, đá quý phản ánh ở tài khoản tiền mặt chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp không đăng ký kinh doanh vàng, bạc, kim khí quý, đá quý nhập quỹ tiền mặt thì việc xuất, nhập được hạch toán như các loại hàng tồn kho (nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước, giá bình quân gia quyền hay giá thực tế từng lần nhập), khi sử dụng để thanh toán chi trả được hạch toán như ngoại tệ.
#LV24 , #luan_van_24 , #luận_văn_24 , #dịch_vụ_chỉnh_sửa_luận_văn , #làm_chuyên_đề_tốt_nghiệp , #giá_làm_luận_văn_tốt_nghiệp
Xem thêm: https://luanvan24.com/tim-hieu-ve-cong-tac-ke-toan-von-bang-tien-trong-doanh-nghiep/
submitted by dangthutra24 to u/dangthutra24 [link] [comments]

Khai quat ve hoat dong bao lanh ngan hang tai Luan Van 24

Hoạt động bảo lãnh ngân hàng là gì? Đặc điểm và vai trò của bảo lãnh ngân hàng là gì? Các văn bản pháp luật điều chỉnh nghiệp vụ bảo lãnh. Tất cả những nội dung này sẽ được Luận Văn 24 chuyên giá làm luận văn tốt nghiệp diễn giải chi tiết trong bài viết này.
📷
Khái quát về hoạt động bảo lãnh ngân hàng

1. Khái niệm về bảo lãnh ngân hàng

Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem như một kỹ thuật tài trợ ngoại thương nhằm chống đỡ những rủi ro mà người thụ hưởng bảo lãnh phải gánh chịu do sự vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo lãnh.
Theo từ điển pháp luật của Mỹ thì bảo lãnh là một thỏa thuận mà theo đó người bảo lãnh chấp thuận sẽ thực hiện nghĩa vụ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả nợ, là việc bên bảo lãnh bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện.
Theo bộ luật dân sự Việt Nam điều 336 thì bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là người được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ..
Theo luật các TCTD, bảo lãnh ngân hàng được hiểu là một trong các hình thức cấp tín dụng được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của TCTD với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết.
Như vậy, các loại văn bản được thiết lập có liên quan trong quan hệ bảo lãnh đó là: hợp đồng kinh tế, hợp đồng bảo lãnh, thư bảo lãnh. Hợp đồng kinh tế là hợp đồng được ký kết giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng, là cơ sở để thiết lập các hợp đồng tiếp theo. Hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng giữa người được bảo lãnh và ngân hàng phát hành bảo lãnh. Thư bảo lãnh được thực hiện nhằm ràng buộc giữa người thụ hưởng và ngân hàng phát hành bảo lãnh.
Hợp đồng bảo lãnh độc lập với hợp đồng kinh tế. Mục đích của bảo lãnh là bồi thường cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh nhưng việc thanh toán chỉ dựa vào những điều khoản, điều kiện trong hợp đồng bảo lãnh. Cho dù người được bảo lãnh trên thực tế có thực hiện hợp đồng hay không và người thụ hưởng có quyền thông báo về những thiệt hại xảy ra hay không, mức thiệt hại thực tế là bao nhiêu, cũng không ảnh hưởng hoặc liên quan đến hợp đồng bảo lãnh giữa người được bảo lãnh và ngân hàng phát hành bảo lãnh. Điều đó có nghĩa là một khi các điều kiện quy định trong hợp đồng bảo lãnh được thỏa mãn về mặt pháp lý thì người thụ hưởng không cần thiết phải chứng minh vi phạm của người được bảo lãnh mà chỉ cần lập các chứng từ theo như yêu cầu của bảo lãnh. Trách nhiệm thanh toán của ngân hàng cũng độc lập với những thỏa thuận giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng. Khi các điều kiện thanh toán được đáp ứng thì ngân hàng không có quyền viện dẫn bất cứ lí do gì để từ chối hoặc có thể hợp đồng kinh tế thay đổi cũng không ảnh hưởng gì đến hợp đồng bảo lãnh.
– Dựa vào biểu hiện bên ngoài thì việc bảo lãnh có ba bên bao gồm bên bảo lãnh, bên thụ hưởng bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Mối quan hệ giữa các chủ thể trong BLNH được thể hiện như sau:
Quan hệ giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh là mối quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh. Trong mối quan hệ này, người được bảo lãnh có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện đối với bên thụ hưởng bảo lãnh. Nghĩa vụ đó có thể là nghĩa vụ tài chính như nghĩa vụ trả nợ cũng có thể là nghĩa vụ phi tài chính như bảo hành sản phẩm hay cung cấp thiết bị…Tuy nhiên nghĩa vụ này không được thực hiện ngay lập tức có thể do khó khăn tạm thời về tài chính hay không muốn ứ đọng vốn… người được bảo lãnh muốn gia hạn nợ trong một khoảng thời gian nhất định. Trong khi đó người thụ hưởng lại không hoàn toàn tin tưởng vào bạn hàng của mình cho nên họ yêu cầu có một sự đảm bảo chắc chắn cho việc thực hiện hợp đồng, họ yêu cầu bảo lãnh của ngân hàng.
Quan hệ giữa người được bảo lãnh và ngân hàng phát hành bảo lãnh là quan hệ dịch vụ bảo lãnh trong đó ngân hàng cấp tín dụng và khách hàng hưởng tín dụng. Bảo lãnh ngân hàng đưa ra những cam kết bằng chứng thư và hạch toán theo dõi ngoại bảng vì trên thực tế chưa sử dụng vốn ngay để cho vay. Như vậy, bảo lãnh ngân hàng được coi như là một hình thức cấp tín dụng gián tiếp.
Quan hệ giữa ngân hàng phát hành bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh: ngân hàng cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ đối với người thụ hưởng bảo lãnh thay cho người được bảo lãnh nếu người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng đã kí kết. Khi có được cam kết với người được bảo lãnh ngân hàng sẽ phát hành thư bảo lãnh để bảo vệ quyền lợi cho người thụ hưởng bảo lãnh.

2. Đặc điểm bảo lãnh ngân hàng

Về thực chất, bảo lãnh là lời hứa thanh toán của Ngân hàng với người được yêu cầu bảo lãnh khi người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bảo lãnh là một công cụ bảo đảm, chứ không phải là công cụ thanh toán. Nghiên cứu đặc điểm của bảo lãnh đưa ra cơ sở phân cho việc phân biệt giữa bảo lãnh với công cụ thanh toán và bảo đảm khác như thư tín dụng, bảo hiểm…
Bảo lãnh ngân hàng có những đặc điểm cơ bản sau:
Tính độc lập tương đối đối với hợp đồng chính
Đây là một đặc điểm quan trọng của bảo lãnh ngân hàng. Mặc dù mục đích của bảo lãnh là bồi hoàn cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh nhưng nó vẫn có sự độc lập tương đối với hợp đồng chính. Việc thanh toán của bảo lãnh chủ yếu căn cứ vào các điều khoản, điều kiện đã được thỏa thuận và quy định trong thư bảo lãnh. Ngân hàng bảo lãnh không thể dựa vào những vấn đề phát sinh trong quan hệ hợp đồng để từ chối nghĩa vụ của mình.
Như vậy, liệu rằng trong thực tế người được bảo lãnh có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với người nhận bảo lãnh hay không và người nhận bảo lãnh có được quyền bồi thường như đã quy định trong hợp đồng cơ sở hay không? Đây không phải là vấn đề đặt ra đối với các ngân hàng trong quan hệ với người nhận bảo lãnh. Theo đó, khi xem xét yêu cầu đòi tiền của người nhận bảo lãnh, nếu các điều khoản, điều kiện của thư bảo lãnh được thỏa mãn, người nhận bảo lãnh về mặt pháp lý được quyền yêu cầu đòi tiền và không cần thiết phải chứng minh các vi phạm của người được bảo lãnh bằng cách nào khác ngoài các quy định trong thư bảo lãnh.
Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng, tính độc lập của bảo lãnh là phụ thuộc vào chính các điều kiện của bảo lãnh. Ví dụ như: nếu bảo lãnh quy định việc thanh toán là theo văn bản yêu cầu của người thụ hưởng thì người thụ hưởng có thể yêu cầu thanh toán mà không cần một điều kiện nào khác ngoài văn bản yêu cầu. Nhưng nếu bảo lãnh yêu cầu một chứng từ cụ thể như: phán quyết của tòa án, hoặc văn bản của bên thứ ba xác nhận sự vi phạm của người được bảo lãnh, văn bản của người được bảo lãnh thừa nhận sự vi phạm của mình thì tính độc lập của bảo lãnh sẽ bị giảm sút.
Đối với các ngân hàng, tính độc lập của bảo lãnh mang lại nhiều thuận lợi. Một khi có yêu cầu đòi tiền theo thư bảo lãnh của người nhận bảo lãnh thì ngân hàng chỉ có trách nhiệm xem xét, kiểm tra các chứng từ được xuất trình có phù hợp với những điều khoản, điều kiện quy định trong thư bảo lãnh hay không.
Bảo lãnh là một cam kết mang tính chất bảo đảm gián tiếp
Đặc điểm này thể hiện rõ vai trò trung gian của ngân hàng. Ở đây, người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ chính là khách hàng (người được bảo lãnh). Còn ngân hàng đứng ra đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của khách hàng. Ngân hàng không phải ngay lập tức sử dụng vốn của mình mà chỉ thực hiện thay khi người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ.
Xuất phát từ đặc trưng này mà trên thế giới hình thành một số quan điểm khác nhau về bảo lãnh. Quan điểm thứ nhất cho rằng: tất cả các hình thức mang tính chất bảo đảm gián tiếp của ngân hàng như thư tín dụng trả chậm, thư tín dụng trả ngay…đều được coi là hình thức bảo lãnh. Quan điểm thứ hai cho rằng, một số hình thức kể trên không phải là hình thức bảo lãnh đơn thuần mà nó là các phương tiện thanh toán hay là một hình thức tín dụng.
Trong đề tài này, bảo lãnh ngân hàng được quan niệm là những cam kết mang tính chất đảm bảo gián tiếp của ngân hàng. Như vậy, số dư bảo lãnh sẽ bao gồm tổng số dư bảo lãnh và các cam kết phát hành theo hình thức tín dụng chứng từ, ngoại trừ hình thức mở thư tín dụng trả ngay được khách hàng kí quỹ đủ hoặc được cho vay 100% giá trị thanh toán.
Cam kết bảo lãnh ngân hàng phải được lập bằng văn bản
Bảo lãnh ngân hàng không chấp nhận việc bảo lãnh hoặc đảm bảo bằng miệng. Văn bản bảo lãnh có thể là thư, điện, Telex hoặc ký hậu trên các hối phiếu, lệnh phiếu, giấy nhận nợ…
Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ làm báo cáo thuê , dịch vụ viết assignment , dịch vụ spss , làm tiểu luận thuê chuyên nghiệp nhất thị trường. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ từ A-Z.

3. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng

3.1. Đối với hoạt động ngân hàng

Nền kinh tế ngày càng phát triển đồng nghĩa với việc nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ càng cao.Việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ giúp các ngân hàng đứng vững trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Nghiệp vụ bảo lãnh ra đời đã góp phần thỏa mãn tốt hơn những đòi hỏi đó. Hơn nữa,Ngân hàng có thể củng cố mối quan hệ với khách hàng truyền thống và tiếp cận được với các khách hàng tiềm năng.
Để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, các ngân hàng đã không ngừng mở rộng và phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Trong đó dịch vụ bảo lãnh đã đem lại cho các ngân hàng một nguồn thu nhập không nhỏ. Bảo lãnh là nghiệp vụ tín dụng bằng chữ kí vì vậy ngân hàng chỉ cần sử dụng uy tín của mình để thực hiện nghiệp vụ này mà không phải sử dụng vốn ngay. Ngân hàng có thêm cơ hội để sử dụng nguồn vốn đó vào các hoạt động đầu tư khác vì việc giải ngân sẽ chỉ diễn ra trong tương lai khi có những vi phạm xảy ra. Khi khách hàng có yêu cầu bảo lãnh họ cần phải kí quỹ một khoản tiền nhất định, được giữ trong tài khoản phong tỏa. Ngân hàng kiếm lời từ việc thu phí và cũng có thể chiếm dụng vốn mà không cần phải trả lãi.
Điều kiện quan trọng để ngân hàng thực hiện nghiệp vụ này chính là uy tín của ngân hàng. Uy tín của ngân hàng càng cao thì số lượng cũng như chất lượng các hợp đồng bảo lãnh càng lớn. Điều này có nghĩa rằng khi thực hiện bảo lãnh để tăng thu nhập cho mình các ngân hàng cũng đang nâng cao uy tín và hình ảnh đối với khách hàng.
Ngoài ra, nghiệp vụ bảo lãnh được thực hiện còn thúc đẩy việc mở rộng các nghiệp vụ khác như: thanh toán, chuyển tiền, chuyển đổi và mua bán ngoại tệ trong những hợp đồng kinh tế của khách hàng với nước ngoài.

3.2. Đối với hoạt động của doanh nghiệp

Đối với người được bảo lãnh:
Bảo lãnh ngân hàng giúp giảm bớt sự căng thẳng về nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp. Trong những hợp đồng cụ thể, do bên được bảo lãnh chưa đủ uy tín với bên thụ hưởng, họ có thể yêu cầu ngân hàng bảo lãnh, nhờ đó bên thụ hưởng bảo lãnh sẽ tài trợ trước một phần vốn cho bên được bảo lãnh giúp họ tiếp tục sản xuất kinh doanh một cách thuận lợi mà không phải đi vay mượn.
Đối với hình thức bảo lãnh vay vốn trong và ngoài nước thì bảo lãnh ngân hàng góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt là những hợp đồng mua thiết bị vật tư trả chậm, bảo lãnh ngân hàng tạo điều kiện thu hút vốn mạnh mẽ. Doanh nghiệp có thể tiếp cận và ứng dụng các công nghệ hiện đại để phát triển và mở rộng hoạt động kinh doanh của mình.
Trong hợp đồng bảo lãnh qui định nếu doanh nghiệp không hoàn thành được nghĩa vụ của mình họ sẽ phải bồi hoàn giá trị hợp đồng lớn hơn giá trị ban đầu tức là giá trị hợp đồng cộng với mức lãi, phạt nhất định. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ngân hàng phát hành cũng thường xuyên kiểm tra giám sát tạo ra áp lực thực hiện tốt hợp đồng, giảm thiểu vi phạm từ phía người được bảo lãnh.Cho nên việc bảo lãnh của ngân hàng cũng thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc hơn, hoàn thành đúng tiến độ hợp đồng đã kí với bên đối tác.
Khách hàng có nhu cầu ngân hàng bảo lãnh cũng sẽ được hưởng các dịch vụ đi kèm như tư vấn về việc phân tích tình hình tài chính, đánh giá vốn vay và sử dụng vốn vay hiệu quả. Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của ngân hàng vì vậy ngân hàng luôn có những hỗ trợ kịp thời và hiệu quả cho doanh nghiệp được bảo lãnh.
Đối với người thụ hưởng bảo lãnh:
Khi đã có bảo lãnh của ngân hàng, người thụ hưởng bảo lãnh sẽ có một đảm bảo chắc chắn cho việc thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh. Bằng cam kết của ngân hàng rằng sẽ bồi thường cho người thụ hưởng bảo nếu như xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng của người được bảo lãnh, bên thụ hưởng bảo lãnh sẽ yên tâm hơn khi kí kết hợp đồng và cũng không cần tốn kém thời gian, chi phí cho việc tìm hiểu đối tác. Khi có rủi ro xảy ra họ chỉ cần xuất trình những bằng chứng chứng tỏ sự vi phạm của bên được bảo lãnh thì ngân hàng sẽ phải thực hiện nghĩa vụ trả thay vô điều kiện.
#LV24 , #luan_van_24 , #luận_văn_24 , #dịch_vụ_chỉnh_sửa_luận_văn , #làm_đồ_án_thuê , #làm_chuyên_đề_tốt_nghiệp , #giá_làm_luận_văn_tốt_nghiệp
Xem thêm: https://luanvan24.com/khai-quat-ve-hoat-dong-bao-lanh-ngan-hang/
submitted by luanvan24 to u/luanvan24 [link] [comments]

Khai quat ve hoat dong bao lanh ngan hang tai Luan Van 24

Hoạt động bảo lãnh ngân hàng là gì? Đặc điểm và vai trò của bảo lãnh ngân hàng là gì? Các văn bản pháp luật điều chỉnh nghiệp vụ bảo lãnh. Tất cả những nội dung này sẽ được Luận Văn 24 chuyên giá làm luận văn tốt nghiệp diễn giải chi tiết trong bài viết này.
📷
Khái quát về hoạt động bảo lãnh ngân hàng

1. Khái niệm về bảo lãnh ngân hàng

Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem như một kỹ thuật tài trợ ngoại thương nhằm chống đỡ những rủi ro mà người thụ hưởng bảo lãnh phải gánh chịu do sự vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo lãnh.
Theo từ điển pháp luật của Mỹ thì bảo lãnh là một thỏa thuận mà theo đó người bảo lãnh chấp thuận sẽ thực hiện nghĩa vụ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả nợ, là việc bên bảo lãnh bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện.
Theo bộ luật dân sự Việt Nam điều 336 thì bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là người được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ..
Theo luật các TCTD, bảo lãnh ngân hàng được hiểu là một trong các hình thức cấp tín dụng được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của TCTD với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết.
Như vậy, các loại văn bản được thiết lập có liên quan trong quan hệ bảo lãnh đó là: hợp đồng kinh tế, hợp đồng bảo lãnh, thư bảo lãnh. Hợp đồng kinh tế là hợp đồng được ký kết giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng, là cơ sở để thiết lập các hợp đồng tiếp theo. Hợp đồng bảo lãnh là hợp đồng giữa người được bảo lãnh và ngân hàng phát hành bảo lãnh. Thư bảo lãnh được thực hiện nhằm ràng buộc giữa người thụ hưởng và ngân hàng phát hành bảo lãnh.
Hợp đồng bảo lãnh độc lập với hợp đồng kinh tế. Mục đích của bảo lãnh là bồi thường cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh nhưng việc thanh toán chỉ dựa vào những điều khoản, điều kiện trong hợp đồng bảo lãnh. Cho dù người được bảo lãnh trên thực tế có thực hiện hợp đồng hay không và người thụ hưởng có quyền thông báo về những thiệt hại xảy ra hay không, mức thiệt hại thực tế là bao nhiêu, cũng không ảnh hưởng hoặc liên quan đến hợp đồng bảo lãnh giữa người được bảo lãnh và ngân hàng phát hành bảo lãnh. Điều đó có nghĩa là một khi các điều kiện quy định trong hợp đồng bảo lãnh được thỏa mãn về mặt pháp lý thì người thụ hưởng không cần thiết phải chứng minh vi phạm của người được bảo lãnh mà chỉ cần lập các chứng từ theo như yêu cầu của bảo lãnh. Trách nhiệm thanh toán của ngân hàng cũng độc lập với những thỏa thuận giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng. Khi các điều kiện thanh toán được đáp ứng thì ngân hàng không có quyền viện dẫn bất cứ lí do gì để từ chối hoặc có thể hợp đồng kinh tế thay đổi cũng không ảnh hưởng gì đến hợp đồng bảo lãnh.
– Dựa vào biểu hiện bên ngoài thì việc bảo lãnh có ba bên bao gồm bên bảo lãnh, bên thụ hưởng bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Mối quan hệ giữa các chủ thể trong BLNH được thể hiện như sau:
Quan hệ giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh là mối quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh. Trong mối quan hệ này, người được bảo lãnh có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện đối với bên thụ hưởng bảo lãnh. Nghĩa vụ đó có thể là nghĩa vụ tài chính như nghĩa vụ trả nợ cũng có thể là nghĩa vụ phi tài chính như bảo hành sản phẩm hay cung cấp thiết bị…Tuy nhiên nghĩa vụ này không được thực hiện ngay lập tức có thể do khó khăn tạm thời về tài chính hay không muốn ứ đọng vốn… người được bảo lãnh muốn gia hạn nợ trong một khoảng thời gian nhất định. Trong khi đó người thụ hưởng lại không hoàn toàn tin tưởng vào bạn hàng của mình cho nên họ yêu cầu có một sự đảm bảo chắc chắn cho việc thực hiện hợp đồng, họ yêu cầu bảo lãnh của ngân hàng.
Quan hệ giữa người được bảo lãnh và ngân hàng phát hành bảo lãnh là quan hệ dịch vụ bảo lãnh trong đó ngân hàng cấp tín dụng và khách hàng hưởng tín dụng. Bảo lãnh ngân hàng đưa ra những cam kết bằng chứng thư và hạch toán theo dõi ngoại bảng vì trên thực tế chưa sử dụng vốn ngay để cho vay. Như vậy, bảo lãnh ngân hàng được coi như là một hình thức cấp tín dụng gián tiếp.
Quan hệ giữa ngân hàng phát hành bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh: ngân hàng cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ đối với người thụ hưởng bảo lãnh thay cho người được bảo lãnh nếu người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng đã kí kết. Khi có được cam kết với người được bảo lãnh ngân hàng sẽ phát hành thư bảo lãnh để bảo vệ quyền lợi cho người thụ hưởng bảo lãnh.

2. Đặc điểm bảo lãnh ngân hàng

Về thực chất, bảo lãnh là lời hứa thanh toán của Ngân hàng với người được yêu cầu bảo lãnh khi người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bảo lãnh là một công cụ bảo đảm, chứ không phải là công cụ thanh toán. Nghiên cứu đặc điểm của bảo lãnh đưa ra cơ sở phân cho việc phân biệt giữa bảo lãnh với công cụ thanh toán và bảo đảm khác như thư tín dụng, bảo hiểm…
Bảo lãnh ngân hàng có những đặc điểm cơ bản sau:
Tính độc lập tương đối đối với hợp đồng chính
Đây là một đặc điểm quan trọng của bảo lãnh ngân hàng. Mặc dù mục đích của bảo lãnh là bồi hoàn cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh nhưng nó vẫn có sự độc lập tương đối với hợp đồng chính. Việc thanh toán của bảo lãnh chủ yếu căn cứ vào các điều khoản, điều kiện đã được thỏa thuận và quy định trong thư bảo lãnh. Ngân hàng bảo lãnh không thể dựa vào những vấn đề phát sinh trong quan hệ hợp đồng để từ chối nghĩa vụ của mình.
Như vậy, liệu rằng trong thực tế người được bảo lãnh có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với người nhận bảo lãnh hay không và người nhận bảo lãnh có được quyền bồi thường như đã quy định trong hợp đồng cơ sở hay không? Đây không phải là vấn đề đặt ra đối với các ngân hàng trong quan hệ với người nhận bảo lãnh. Theo đó, khi xem xét yêu cầu đòi tiền của người nhận bảo lãnh, nếu các điều khoản, điều kiện của thư bảo lãnh được thỏa mãn, người nhận bảo lãnh về mặt pháp lý được quyền yêu cầu đòi tiền và không cần thiết phải chứng minh các vi phạm của người được bảo lãnh bằng cách nào khác ngoài các quy định trong thư bảo lãnh.
Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng, tính độc lập của bảo lãnh là phụ thuộc vào chính các điều kiện của bảo lãnh. Ví dụ như: nếu bảo lãnh quy định việc thanh toán là theo văn bản yêu cầu của người thụ hưởng thì người thụ hưởng có thể yêu cầu thanh toán mà không cần một điều kiện nào khác ngoài văn bản yêu cầu. Nhưng nếu bảo lãnh yêu cầu một chứng từ cụ thể như: phán quyết của tòa án, hoặc văn bản của bên thứ ba xác nhận sự vi phạm của người được bảo lãnh, văn bản của người được bảo lãnh thừa nhận sự vi phạm của mình thì tính độc lập của bảo lãnh sẽ bị giảm sút.
Đối với các ngân hàng, tính độc lập của bảo lãnh mang lại nhiều thuận lợi. Một khi có yêu cầu đòi tiền theo thư bảo lãnh của người nhận bảo lãnh thì ngân hàng chỉ có trách nhiệm xem xét, kiểm tra các chứng từ được xuất trình có phù hợp với những điều khoản, điều kiện quy định trong thư bảo lãnh hay không.
Bảo lãnh là một cam kết mang tính chất bảo đảm gián tiếp
Đặc điểm này thể hiện rõ vai trò trung gian của ngân hàng. Ở đây, người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ chính là khách hàng (người được bảo lãnh). Còn ngân hàng đứng ra đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của khách hàng. Ngân hàng không phải ngay lập tức sử dụng vốn của mình mà chỉ thực hiện thay khi người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ.
Xuất phát từ đặc trưng này mà trên thế giới hình thành một số quan điểm khác nhau về bảo lãnh. Quan điểm thứ nhất cho rằng: tất cả các hình thức mang tính chất bảo đảm gián tiếp của ngân hàng như thư tín dụng trả chậm, thư tín dụng trả ngay…đều được coi là hình thức bảo lãnh. Quan điểm thứ hai cho rằng, một số hình thức kể trên không phải là hình thức bảo lãnh đơn thuần mà nó là các phương tiện thanh toán hay là một hình thức tín dụng.
Trong đề tài này, bảo lãnh ngân hàng được quan niệm là những cam kết mang tính chất đảm bảo gián tiếp của ngân hàng. Như vậy, số dư bảo lãnh sẽ bao gồm tổng số dư bảo lãnh và các cam kết phát hành theo hình thức tín dụng chứng từ, ngoại trừ hình thức mở thư tín dụng trả ngay được khách hàng kí quỹ đủ hoặc được cho vay 100% giá trị thanh toán.
Cam kết bảo lãnh ngân hàng phải được lập bằng văn bản
Bảo lãnh ngân hàng không chấp nhận việc bảo lãnh hoặc đảm bảo bằng miệng. Văn bản bảo lãnh có thể là thư, điện, Telex hoặc ký hậu trên các hối phiếu, lệnh phiếu, giấy nhận nợ…
Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp dịch vụ làm báo cáo thuê , dịch vụ viết assignment , dịch vụ spss , làm tiểu luận thuê chuyên nghiệp nhất thị trường. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ từ A-Z.

3. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng

3.1. Đối với hoạt động ngân hàng

Nền kinh tế ngày càng phát triển đồng nghĩa với việc nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ càng cao.Việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ giúp các ngân hàng đứng vững trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Nghiệp vụ bảo lãnh ra đời đã góp phần thỏa mãn tốt hơn những đòi hỏi đó. Hơn nữa,Ngân hàng có thể củng cố mối quan hệ với khách hàng truyền thống và tiếp cận được với các khách hàng tiềm năng.
Để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, các ngân hàng đã không ngừng mở rộng và phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Trong đó dịch vụ bảo lãnh đã đem lại cho các ngân hàng một nguồn thu nhập không nhỏ. Bảo lãnh là nghiệp vụ tín dụng bằng chữ kí vì vậy ngân hàng chỉ cần sử dụng uy tín của mình để thực hiện nghiệp vụ này mà không phải sử dụng vốn ngay. Ngân hàng có thêm cơ hội để sử dụng nguồn vốn đó vào các hoạt động đầu tư khác vì việc giải ngân sẽ chỉ diễn ra trong tương lai khi có những vi phạm xảy ra. Khi khách hàng có yêu cầu bảo lãnh họ cần phải kí quỹ một khoản tiền nhất định, được giữ trong tài khoản phong tỏa. Ngân hàng kiếm lời từ việc thu phí và cũng có thể chiếm dụng vốn mà không cần phải trả lãi.
Điều kiện quan trọng để ngân hàng thực hiện nghiệp vụ này chính là uy tín của ngân hàng. Uy tín của ngân hàng càng cao thì số lượng cũng như chất lượng các hợp đồng bảo lãnh càng lớn. Điều này có nghĩa rằng khi thực hiện bảo lãnh để tăng thu nhập cho mình các ngân hàng cũng đang nâng cao uy tín và hình ảnh đối với khách hàng.
Ngoài ra, nghiệp vụ bảo lãnh được thực hiện còn thúc đẩy việc mở rộng các nghiệp vụ khác như: thanh toán, chuyển tiền, chuyển đổi và mua bán ngoại tệ trong những hợp đồng kinh tế của khách hàng với nước ngoài.

3.2. Đối với hoạt động của doanh nghiệp

Đối với người được bảo lãnh:
Bảo lãnh ngân hàng giúp giảm bớt sự căng thẳng về nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp. Trong những hợp đồng cụ thể, do bên được bảo lãnh chưa đủ uy tín với bên thụ hưởng, họ có thể yêu cầu ngân hàng bảo lãnh, nhờ đó bên thụ hưởng bảo lãnh sẽ tài trợ trước một phần vốn cho bên được bảo lãnh giúp họ tiếp tục sản xuất kinh doanh một cách thuận lợi mà không phải đi vay mượn.
Đối với hình thức bảo lãnh vay vốn trong và ngoài nước thì bảo lãnh ngân hàng góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt là những hợp đồng mua thiết bị vật tư trả chậm, bảo lãnh ngân hàng tạo điều kiện thu hút vốn mạnh mẽ. Doanh nghiệp có thể tiếp cận và ứng dụng các công nghệ hiện đại để phát triển và mở rộng hoạt động kinh doanh của mình.
Trong hợp đồng bảo lãnh qui định nếu doanh nghiệp không hoàn thành được nghĩa vụ của mình họ sẽ phải bồi hoàn giá trị hợp đồng lớn hơn giá trị ban đầu tức là giá trị hợp đồng cộng với mức lãi, phạt nhất định. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ngân hàng phát hành cũng thường xuyên kiểm tra giám sát tạo ra áp lực thực hiện tốt hợp đồng, giảm thiểu vi phạm từ phía người được bảo lãnh.Cho nên việc bảo lãnh của ngân hàng cũng thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc hơn, hoàn thành đúng tiến độ hợp đồng đã kí với bên đối tác.
Khách hàng có nhu cầu ngân hàng bảo lãnh cũng sẽ được hưởng các dịch vụ đi kèm như tư vấn về việc phân tích tình hình tài chính, đánh giá vốn vay và sử dụng vốn vay hiệu quả. Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của ngân hàng vì vậy ngân hàng luôn có những hỗ trợ kịp thời và hiệu quả cho doanh nghiệp được bảo lãnh.
Đối với người thụ hưởng bảo lãnh:
Khi đã có bảo lãnh của ngân hàng, người thụ hưởng bảo lãnh sẽ có một đảm bảo chắc chắn cho việc thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh. Bằng cam kết của ngân hàng rằng sẽ bồi thường cho người thụ hưởng bảo nếu như xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng của người được bảo lãnh, bên thụ hưởng bảo lãnh sẽ yên tâm hơn khi kí kết hợp đồng và cũng không cần tốn kém thời gian, chi phí cho việc tìm hiểu đối tác. Khi có rủi ro xảy ra họ chỉ cần xuất trình những bằng chứng chứng tỏ sự vi phạm của bên được bảo lãnh thì ngân hàng sẽ phải thực hiện nghĩa vụ trả thay vô điều kiện.
#LV24 , #luan_van_24 , #luận_văn_24 , #dịch_vụ_chỉnh_sửa_luận_văn , #làm_đồ_án_thuê , #làm_chuyên_đề_tốt_nghiệp , #giá_làm_luận_văn_tốt_nghiệp
Xem thêm: https://luanvan24.com/khai-quat-ve-hoat-dong-bao-lanh-ngan-hang/
submitted by dangthutra24 to u/dangthutra24 [link] [comments]

Hỏi đáp_Cách viết hóa đơn khi bán hàng thu ngoại tệ CCTV phơi bày hoạt động rửa tiền của Ngân hàng TQ Dự trữ ngoại hối của Việt Nam đạt mức kỷ lục mới Forex Là Gì - Tìm Hiểu Cụ Thể Về Giao Dịch Ngoại Hối  TigerWit Tỷ giá là gì? Video về tỷ giá ngoại hối tỉ mỉ nhất năm 2019

Chuyển đổi qua lại tất cả các loại tiền tệ trên thế giới bằng tỷ giá hối đoái mới. CoinMill.com - Chuyển đổi tiền tệ ... Tùy chỉnh một công cụ chuyển đổi tiền tệ, chọn các loại tiền tệ mà bạn muốn. Thanh toán và quản lý tiền tệ; Tín dụng doanh nghiệp; Ngoại hối và thị trường vốn; ... Kênh nhận tiền nhanh qua VCBR (Công ty Kiều hối Vietcombank) ... Công cụ tính toán. Chuyển đổi ngoại tệ ... Công cụ chuyển đổi tiền tệ. Mở tài khoản. Vào. Tài khoản giao dịch. ... Bảng thị giá ngoại hối Forex; Máy tính margin; Nền tảng. NỀN TẢNG DESKTOP ĐỂ GIAO DỊCH TRÊN FOREX. NỀN TẢNG WEB ĐỂ GIAO DỊCH TRÊN FOREX. Công cụ chuyển đổi tiền của chúng tôi sử dụng số liệu trung bình từ Tỷ giá Hối đoái Quốc tế. Tỷ giá hối đoái được cập nhật liên tục mỗi phút. Tính toán tiền tệ một cách trực tiếp với Công cụ chuyển đổi tiền tệ miễn phí này. Bạn có thể chuyển đổi số tiền của mình theo hơn 150 loại tiền tệ trên thế giới. Tỷ giá hối đoái được cập nhật hàng giờ cùng với công cụ tính toán tiền tệ này.

[index] [2276] [12520] [6454] [10012] [865] [7285] [8665] [11431] [4827] [2094]

Hỏi đáp_Cách viết hóa đơn khi bán hàng thu ngoại tệ

Công cụ tiền tệ ... Hoặc ngoại hối, không có trung gian. Giao dịch được thực hiện giữa hai bên, như khi bạn đổi tiền tại sân bay, hoặc mua và bán CFD ... Chi nhánh ngân hàng Trung Quốc ở nước ngoài sẽ đổi tiền ra ngoại tệ cho khách hàng với số lượng không giới hạn. Tuy nhiên, dịch vụ chuyển tiền này là ... Giao dịch ngoại hối là hình thức mua một loại tiền tệ và đồng thời bán một loại tiền tệ khác trong cặp tiền tệ đó, chẳng hạn như đồng euro đổi ... Khởi điểm của thị trường Forex ngày nay bắt đầu vào năm 1971, sau khi nền kinh tế toàn cầu đã chuyển mình từ “bản vị vàng” sang tự do tiền tệ. Mục tiêu của việc giao dịch ngoại hối là trao đổi 1 loại tiền tệ này với 1 loại tiền tệ khác với mong muốn sao cho tỷ giá giữa cặp tiền này sẽ thay ...

https://forex-korea.automining.pw